![]() |
| Hội thảo “Chuỗi cung ngành sắn Việt Nam: Thực trạng và thách thức” |
Một ngành hàng tỷ đô
Tại hội thảo “Chuỗi cung ngành sắn Việt Nam: Thực trạng và thách thức” do Hội Khoa học Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam phối hợp với Tổ chức Forest Trends tại Việt Nam tổ chức sáng 28/1, phát biểu khai mạc, TS. Nghiêm Minh Tiến, Chủ tịch Hiệp hội sắn Việt Nam cho biết, tại Việt Nam sắn là lương thực có diện tích lớn thứ 3 sau lúa và ngô. Vai trò của cây sắn đã chuyển từ chỗ cây lương thực, cây xóa đói giảm nghèo thành cây làm giàu, cây nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến. Tinh bột sắn, sắn lát Việt Nam đã trở thành một trong bảy mặt hàng xuất khẩu quan trọng, có giá trị, trong 5 năm gần đây đạt trên 1 tỷ USD.
Với hơn 18 triệu tấn sắn tươi mỗi năm, trong đó hơn 500.000 ha diện tích trồng sắn trong nước, cùng với 142 nhà máy chế biến quy mô lớn, ngành sắn không chỉ đóng góp vào tăng trưởng xuất khẩu mà còn tạo việc làm và thu nhập ổn định cho hàng triệu nông hộ tại các vùng nông thôn khó khăn. Ngành sắn hiện đang mở rộng ứng dụng trong thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, công nghiệp và năng lượng sinh học – từng bước khẳng định vai trò quan trọng trong hệ sinh thái nông nghiệp hiện đại, thân thiện với môi trường.
Tuy nhiên, theo ông Tiến, chính sự phát triển nhanh và quy mô lớn của ngành đang kéo theo một thách thức không nhỏ: tính hợp pháp và khả năng truy xuất nguồn gốc của nguyên liệu sắn. Trong bối cảnh hàng loạt thị trường như EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc… siết chặt quy định liên quan đến chống mất rừng, các sản phẩm không rõ nguồn gốc hoặc có liên quan đến suy thoái rừng có nguy cơ bị loại khỏi thị trường quốc tế.
![]() |
| Ông Nghiêm Minh Tiến, Chủ tịch Hiệp hội Sắn Việt Nam. Ảnh: Bảo Thắng. |
Phát triển ngành sắn vẫn còn thiếu bền vững: liên kết giữa nông dân và nhà máy chế biến còn lỏng lẻo; bệnh khảm lá bùng phát trên diện rộng; tình trạng mở rộng diện tích thiếu kiểm soát, canh tác quảng canh năng suất thấp và ô nhiễm môi trường tại các cơ sở chế biến nhỏ lẻ vẫn diễn ra.
Từ những vấn đề gợi mở, theo TS. Hà Công Tuấn, Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Thường trực Bộ NN&PTNT, nếu không đồng thời tháo gỡ ba điểm nghẽn lớn của ngành sắn Việt Nam hiện nay: năng suất thấp, sản xuất manh mún và chuỗi cung ứng thiếu liên kết chặt chẽ đang cản trở nghiêm trọng quá trình phát triển bền vững, ngành sắn sẽ rất khó đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe về truy xuất nguồn gốc, khó tiếp cận và ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, và ngày càng gia tăng rủi ro trong bối cảnh hội nhập sâu rộng.
TS. Hà Công Tuấn nhấn mạnh: việc nhận diện và giải quyết rõ ràng những vấn đề cốt lõi nói trên là điều kiện tiên quyết để ngành sắn chuyển mình theo hướng minh bạch, hiện đại và hội nhập hiệu quả với thị trường toàn cầu.
Chính phủ đã ban hành Đề án phát triển bền vững ngành hàng sắn đến năm 2030, tầm nhìn 2050, đặt trọng tâm vào mục tiêu đến năm 2026, tất cả hàng hóa nông lâm sản xuất khẩu phải đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc đầy đủ. Đây là tiền đề quan trọng để duy trì thị trường xuất khẩu, giảm thiểu rủi ro, và đặc biệt là bảo đảm sinh kế bền vững cho hàng triệu hộ nông dân.
Những giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn
Khi nói đến năng suất thấp của cây sắn tại Việt Nam, nhiều người mặc định rằng đó là vấn đề... của giống. Nhưng thực tế, giống chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Những bất cập sâu xa hơn nằm ở cách chúng ta sử dụng đất, tổ chức sản xuất, và vận hành chuỗi cung ứng một cách rời rạc, thiếu liên kết. Đây mới chính là những “nút thắt” của việc phát triển bền vững của ngành sắn Việt Nam.
Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, đến năm 2025, diện tích trồng sắn của Việt Nam sẽ ổn định ở mức 500.000 ha, với sản lượng khoảng 10,2 – 10,5 triệu tấn củ tươi mỗi năm. Tuy nhiên, năng suất bình quân chỉ đạt 20,5 – 21 tấn/ha – thấp đáng kể so với Thái Lan và Indonesia, nơi mà năng suất vượt trội nhờ thâm canh bài bản, giống chuyên hóa và quản lý đất khoa học.
Hiện Việt Nam sử dụng ba nhóm giống chính, nhưng hệ thống nhân giống, kiểm soát chất lượng và chuyển giao kỹ thuật còn manh mún, thiếu liên kết. Đáng nói hơn, phần lớn diện tích trồng sắn nằm trên đất dốc, nghèo dinh dưỡng, bị canh tác liên tục mà ít cải tạo, khiến đất bạc màu và năng suất sắn ngày càng suy giảm. Thêm vào đó, đầu tư cho nghiên cứu giống vẫn "leo thang nhỏ giọt", chưa có chương trình quốc gia riêng, khiến hiệu quả tăng năng suất diễn ra chậm và không đồng đều giữa các vùng.
![]() |
| TS Hà Công Tuấn, Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Thường trực Bộ NN-PTNT |
Vấn đề của cây sắn không chỉ nằm ở... dưới mặt đất, mà còn nằm trong cách chúng ta tổ chức sản xuất trên chính mảnh đất ấy. Theo TS. Hà Công Tuấn, nếu muốn đẩy mạnh thâm canh sắn, bắt buộc phải song hành với các biện pháp cải tạo đất, nâng cao độ màu và áp dụng kỹ thuật canh tác bền vững. Còn nếu luân canh, nguy cơ lớn nhất là đứt gãy thông tin, làm mất dấu truy xuất và phá vỡ tính liên tục của vùng nguyên liệu hàng hóa.
Hiện phần lớn diện tích sắn ở Việt Nam thuộc quy mô nhỏ lẻ, trung bình 0,5 – 0,6 ha/hộ. Nông dân luân canh sắn với các loại cây khác theo biến động giá thị trường. Điều này khiến thông tin về lịch sử sử dụng đất, thời điểm trồng, nguồn giống... trở nên "mờ mịt". Forest Trends đánh giá đây là "chốt chặn" lớn nhất trong tiến trình xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc, đặc biệt trong bối cảnh các thị trường cao cấp như EU, Nhật Bản, Hàn Quốc đang siết chặt tiêu chuẩn về hợp pháp và không gây mất rừng.
Theo TS. Hà Công Tuấn, Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, truy xuất nguồn gốc hiện là trở ngại lớn nhất của ngành sắn Việt Nam, đặc biệt ở phân khúc nguyên liệu. Trong nước, phần lớn diện tích trồng sắn thuộc quy mô nhỏ lẻ, manh mún, tiêu thụ thông qua thương lái, không có dữ liệu sử dụng đất hoặc chứng từ giao dịch rõ ràng. Tình trạng tương tự cũng diễn ra với 42% nguồn nguyên liệu nhập khẩu từ Lào và Campuchia, khi doanh nghiệp gần như không có thông tin về vùng trồng hay minh chứng hợp pháp.
Một vấn đề đáng lo ngại khác là liên kết chuỗi. Hiện nay, chưa tới 5% người trồng sắn có hợp đồng trực tiếp với nhà máy chế biến. Hơn 95% sản lượng được tiêu thụ qua thương lái. Theo TS. Hà Công Tuấn: “Nếu không quản lý được mối quan hệ này thì không thể quản lý được chuỗi cung. Càng không thể triển khai hiệu quả truy xuất nguồn gốc hay áp dụng công nghệ.”
Trong khi cả nước có khoảng 350 – 380 hợp tác xã có hộ trồng sắn tham gia, thì chỉ khoảng 40 – 50 HTX chuyên ngành thực sự hoạt động hiệu quả, và mới có khoảng 20 – 25% sản lượng sắn được liên kết hợp đồng ổn định. Phần còn lại vẫn dựa vào giao dịch ngắn hạn, thiếu ràng buộc, thiếu dữ liệu – đồng nghĩa với rủi ro cao.
Ông Nghiêm Minh Tiến, Chủ tịch Hiệp hội Sắn Việt Nam, nhấn mạnh: Giải pháp không nằm ở việc “xóa sổ” thương lái bằng mệnh lệnh hành chính, mà là doanh nghiệp chế biến phải đủ năng lực để đứng ở trung tâm chuỗi – chủ động xây dựng vùng nguyên liệu, ký hợp đồng trực tiếp, hướng dẫn kỹ thuật, tổ chức thu mua ổn định.
Ông cũng lưu ý rằng, phần lớn người trồng sắn là đồng bào dân tộc thiểu số, gặp khó khăn về tiếp cận tài chính, công nghệ và thanh toán phi tiền mặt. Trong bối cảnh đó, thương lái vẫn là một “mắt xích tất yếu” của chuỗi. Vấn đề không phải là loại bỏ, mà là minh bạch hóa và kiểm soát vai trò trung gian này.
Một lo ngại quốc tế là nguy cơ cây sắn gây mất rừng. Tuy nhiên, theo phân tích từ Forest Trends, người trồng sắn nhỏ lẻ không phải là tác nhân chính của nạn phá rừng. Sắn vốn không phải là cây trồng lợi nhuận cao, và những vùng có sắn hiện nay chủ yếu là đất dốc, đất trống đồi trọc hoặc rừng sản xuất nghèo kiệt,... những khu vực mà ít cây trồng khác có thể tồn tại.
![]() |
| Nguyễn Vinh Quang cán bộ nghiên cứu của Tổ chức Forest Trends phát biểu tại cuộc họp. |
TS. Hà Công Tuấn đề xuất nên rà soát toàn bộ diện tích sắn trồng trên đất lâm nghiệp, phân định rõ đâu là vùng đã canh tác ổn định lâu dài. Đồng thời, ông kiến nghị cho phép trồng sắn như một biện pháp lâm sinh trong giai đoạn rừng chưa khép tán, nhằm kết hợp giữa nông – lâm, vừa cải tạo đất, nâng chất lượng rừng, vừa đảm bảo sinh kế.
Đây là khoảng trống chưa được quy định cụ thể trong EUDR của EU – và Việt Nam cần chủ động đàm phán để hài hòa giữa bảo vệ rừng, bảo vệ sinh kế và duy trì xuất khẩu.
Để giải quyết tận gốc bài toán truy xuất nguồn gốc, TS. Hà Công Tuấn khuyến nghị cần nhanh chóng chuẩn hóa dữ liệu vùng trồng bằng bản đồ số, xây dựng bộ tiêu chí truy xuất chung cho các thị trường xuất khẩu, tổ chức lại toàn bộ chuỗi cung từ nông dân, hợp tác xã, thương lái đến nhà máy – trong đó vai trò từng mắt xích cần được “định danh” rõ ràng, có trách nhiệm và chia sẻ lợi ích minh bạch.
“Truy xuất nguồn gốc không thể chỉ dựa vào hóa đơn”, ông nhấn mạnh. Điều này đúng với cả nguyên liệu trong nước lẫn nhập khẩu. Doanh nghiệp phải nâng cao năng lực giải trình nếu muốn ngành sắn không chỉ giữ được thị trường Trung Quốc, mà còn mở đường vào những thị trường cao cấp hơn trong tương lai.