Nhà máy lọc dầu là một tổ hợp công nghiệp có nhiệm vụ biến đổi và tinh chế dầu thô thành các sản phẩm dầu mỏ có giá trị cao hơn như xăng, nhiên liệu máy bay, dầu diesel, dầu nhờn và các sản phẩm lọc, hóa dầu khác.
Quá trình này được thực hiện thông qua nhiều giai đoạn khác nhau, bao gồm chưng cất, phân đoạn, chuyển hóa và xử lý, nhằm mục tiêu tối ưu hóa hiệu suất và mang đến những sản phẩm chất lượng.
Nhà máy lọc dầu rất quan trọng đối với ngành dầu khí quốc gia, giúp đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.
![]() |
| Ngành lọc dầu rất quan trọng đối với nền kinh tế của một quốc gia bởi sản phẩm của nó cho ra phục vụ nhiều ngành nghề, bên cạnh đó còn giúp đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. |
Trước đây, khi chưa có nhà máy lọc dầu, thì sau khi khai thác được dầu thô, Việt Nam sẽ phải bán cho các nước có ngành lọc, hóa dầu phát triển và mua lại các sản phẩm xăng, dầu,… đã được lọc từ họ.
Việc này giống như việc "bán thô, mua tinh", đồng nghĩa với việc bán rẻ, mua đắt. Ngoài ra điều này cũng sẽ gây khó khăn trong việc dự trữ ngoại hối của đất nước, và quan trọng hơn là không tự chủ được an ninh năng lượng quốc gia.
Nếu một ngày đất nước có chiến tranh, dịch bệnh hoặc biến động về địa chính trị; nguồn cung xăng, dầu từ bên ngoài bị gián đoạn thì vai trò của nhà máy lọc dầu lại càng rất quan trọng.
Hiện Việt Nam đang sở hữu 2 nhà máy lọc dầu lớn là Nhà máy lọc dầu Dung Quất (Quảng Ngãi) được vận hành CTCP Lọc hóa dầu Bình Sơn (Mã chứng khoán: BSR) và Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn (Thanh Hóa) của Công ty TNHH Lọc hóa dầu Nghi Sơn.
Hai nhà máy Dung Quất và Nghi Sơn có tổng công suất thiết kế khoảng 14 – 18 triệu tấn sản phẩm mỗi năm, qua đó cung cấp tổng cộng khoảng 60 – 70% nhu cầu xăng dầu trong nước, phần còn lại phải nhập khẩu.
Năm 2025, Nhà máy lọc dầu Dung Quất của BSR đạt sản lượng xuất bán hơn 7,7 triệu tấn, trong đó khoảng 65% - 70% là sử dụng dầu thô từ các mỏ khai thác trong nước. Khoảng 30–35% còn lại là dầu thô nguyên liệu được nhập khẩu. Thị trường dầu thô mà BSR chủ yếu từ Tây Phi, khu vực Địa Trung Hải, Mỹ và một phần từ Trung Đông.
| Nhà máy lọc dầu Dung Quất là nhà máy lọc dầu đầu tiên hoàn toàn của Việt Nam. Ảnh minh họa: BSR. |
Đối với Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn – đơn vị chiếm tới 35 - 40% thị phần cung ứng xăng dầu trong nước lại phụ thuộc chủ yếu vào nguồn dầu thô từ Kuwait - quốc gia giáp ranh với Iran, sở hữu trữ lượng dầu lớn và là một trong những nhà xuất khẩu dầu thô quan trọng của thế giới.
Trong quá khứ, giai đoạn 2004 - 2008, dầu thô nằm trong nhóm mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch hằng năm từ 5 tỷ USD đến 10 tỷ USD, chiếm 1/5 tỷ trọng xuất khẩu của nước ta cách đây khoảng hai thập kỷ.
Tuy nhiên sau khi Việt Nam xây dựng hai Nhà máy lọc dầu với Dung Quất (vận hành từ 2009) và Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn (vận hành thương mại từ 2018), một lượng lớn dầu thô đã được giữ lại để sản xuất lọc trong nước. Ngoài ra, các mỏ khai thác dầu lớn bước vào giai đoạn suy giảm nên buộc Việt Nam phải nhập khẩu dầu thô từ nước ngoài.
Số liệu mới nhất 2025, Việt Nam đã nhập khẩu tổng kim ngạch các sản phẩm xăng dầu các loại, khí dầu mỏ hóa lỏng LPG là 17 tỷ USD.
Trong khi đó đến nay, nước ta vẫn xuất khẩu một lượng dầu thô nhất định từ các mỏ được khai thác trong nước ra thế giới.
Vậy tại sao lại có nghịch lý như vậy?
Thứ nhất là nằm ở thiết kế của các nhà máy lọc dầu hiện nay. Mỗi mỏ khai thác cho ra một loại dầu thô khác nhau về tính chất vật lý, thành phần hóa học. Thông thường, dầu thô được chia thành dầu ngọt và dầu chua (dựa trên hàm lượng lưu huỳnh) và dầu nặng, dầu nhẹ (dựa trên tỷ trọng của dầu). Trong khi đó, mỗi nhà máy lọc dầu được thiết kế để lọc một loại dầu nhất định, hoặc một hỗn hợp dầu có tính chất nhất định.
Trong đó, Nhà máy Lọc dầu Dung Quất được thiết kế để lọc dầu từ mỏ Bạch Hổ. Dầu Bạch Hổ là loại dầu ngọt nhẹ, hàm lượng lưu huỳnh rất ít,
Còn Nhà máy Lọc dầu Nghi Sơn được thiết kế cho hỗn hợp dầu từ Kuwait có hàm lượng lưu huỳnh cao hơn. Do đó dù có khai thác được dầu trong nước nhưng không phải dầu thô nào cũng phù hợp với công nghệ lọc của hai nhà máy lọc dầu Nghi Sơn và Dung Quất.
Vì vậy, Việt Nam vẫn phải xuất dầu thô không phù hợp công nghệ lọc trong nước và nhập khẩu loại dầu thô thích hợp để về lọc.
![]() |
| Nguồn: Tổng hợp. |
Thứ hai là về chi phí. Chi phí khai thác và chế biến dầu thô trong nước tương đối cao, nên trong nhiều thời điểm, doanh nghiệp lựa chọn phương án nhập khẩu vì giá thành có thể cạnh tranh hơn.
Do vậy, giá xăng dầu trong nước về cơ bản vẫn chịu tác động lớn từ giá bình quân trên thị trường quốc tế. Khi căng thẳng leo thang tại khu vực Trung Đông - nơi có vai trò trung chuyển dầu mỏ rất quan trọng, chỉ cần xuất hiện nguy cơ gián đoạn vận tải hoặc nguồn cung, giá dầu thế giới sẽ phản ứng ngay. Khi đó, giá nhập khẩu của Việt Nam tăng theo, kéo mặt bằng giá trong nước đi lên.
Thậm chí, trong kịch bản xấu hơn, nếu hoạt động nhập khẩu gặp trục trặc nghiêm trọng, không chỉ giá bán tăng mà nguy cơ thiếu hụt cục bộ cũng có thể xảy ra.
Một yếu tố quan trọng khác khiến Việt Nam buộc phải nhập khẩu dầu thô là thỏa thuận nhập dầu Kuwait. Cụ thể, Công ty TNHH Lọc hóa dầu Nghi Sơn – đơn vị vận hành nhà máy lọc dầu cùng tên được góp vốn bởi 4 cổ đông là Tập đoàn Công nghiệp Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PVN), Công ty Dầu khí quốc tế Kuwait KPI (Kuwait), Công ty Idemitsu Kosan và Công ty Hóa chất Mitsui (Nhật Bản). Ảnh: Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn. Trong đó Công ty Dầu khí Kuwait nắm tới 35,1% vốn đầu tư của tổ hợp lọc dầu này. Theo thỏa thuận Kuwait sẽ bảo đảm nguồn dầu thô ổn định dài hạn cho nhà máy Nghi Sơn theo thiết kế.
Trung Đông từ nhiều thập kỷ qua luôn được ví như “rốn dầu” của thế giới, nơi tập trung phần lớn trữ lượng năng lượng toàn cầu. Riêng Iran cũng là một trong những quốc gia dầu mỏ có ảnh hưởng lớn với sản lượng và xuất khẩu thuộc nhóm hàng đầu OPEC.
Chính vì vậy, chỉ cần khu vực này xuất hiện biến động địa chính trị, thị trường dầu mỏ toàn cầu lập tức chao đảo, kéo theo áp lực lạm phát và bất ổn kinh tế trên phạm vi toàn thế giới.
Kể từ khi xung đột vũ trang giữa Mỹ, Israel và Iran nổ ra, giá dầu thế giới đã tăng “thẳng đứng”. Giờ đây, giá dầu Brent đã vượt 90 USD/thùng.
![]() |
| Giá dầu đã tăng dựng đứng chỉ trong vài ngày, vượt mốc 90 USD/thùng. Nguồn: TradingView. |
Mối lo ngại lớn nhất hiện nay không còn nằm ở các nỗ lực đàm phán ngoại giao, mà là nguy cơ Eo biển Hormuz bị tê liệt hoàn toàn – tuyến hàng hải chiến lược trung chuyển khoảng 20% nguồn cung dầu mỏ và khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) của thế giới.
Theo dữ liệu từ các hệ thống theo dõi hàng hải quốc tế, hàng trăm tàu chở dầu đã phải neo đậu ở hai đầu eo biển do lo ngại nguy cơ bị tấn công tên lửa trong bối cảnh căng thẳng leo thang.
![]() |
| Các tàu tránh đi qua Eo biển Hormuz. Ảnh: LSEG, Reuters. |
Trước diễn biến căng thẳng tại Trung Đông, Bộ Công Thương cho biết đã kích hoạt các kịch bản ứng phó để bảo đảm nguồn cung xăng dầu và ổn định thị trường trong nước.
Còn với các công ty lọc dầu trong nước, BSR cho biết trong giai đoạn tháng 3–5/2026, BSR đã ký hợp đồng mua khoảng 3 triệu thùng dầu thô nhập khẩu thông qua các đầu mối (Qua Iboe, Bu Attifel, Medanito và Palanca Blend). Mặc dù các nguồn này không thuộc khu vực xung đột trực tiếp, căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông vẫn có thể tác động gián tiếp đến tiến độ giao hàng, chi phí vận tải, bảo hiểm và an toàn hàng hải.
Đáng chú ý, với nhu cầu mua bổ sung theo hợp đồng chuyến trong tháng 5/2026 ước khoảng 900.000-1 triệu thùng và tháng 6/2026 khoảng 1-1,3 triệu thùng, việc vận hành nhà máy Dung Quất ở mức 118–120% công suất sẽ chịu áp lực lớn về giá cả và khả năng tiếp cận nguồn hàng.
Cũng theo Tổng Giám đốc BSR Nguyễn Việt Thắng, trong tháng 2 vừa qua, BSR đã triển khai mua cấu tử xăng có trị số octane cao để phối trộn nhưng do nguồn cung khan hiếm và thị trường biến động mạnh, BSR chưa thể mua đủ khối lượng theo kế hoạch, ảnh hưởng đến phương án gia tăng chế biến trong tháng 3/2026.
Để giảm thiểu nguy cơ thiếu hụt dầu thô nguyên liệu khiến nhà máy lọc dầu Dung Quất phải điều chỉnh giảm công suất hoặc không hoàn thành kế hoạch được giao, BSR đã kiến nghị các cấp có thẩm quyền và Petrovietnam xem xét cơ chế ưu tiên cho BSR được mua tối đa dầu thô và khí ngưng tụ condensate khai thác trong nước.
Đồng thời, BSE kiến nghị cơ quan quản lý cần áp dụng cơ chế tạm thời ưu tiên dầu thô nội địa cho nhà máy lọc dầu Dung Quất để chế biến xăng dầu thành phẩm, cũng như hạn chế xuất khẩu dầu thô nội địa trong giai đoạn cao điểm rủi ro (đến hết quý III/2026 hoặc đến khi thị trường quốc tế ổn định), nhằm bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
Đặc biệt, để bảo đảm đủ dầu phục vụ vận hành trong tháng 5–6/2026, BSR đề nghị được phép mua trực tiếp dầu thô từ các lô Ruby, Bunga Orkid (BO) và Chim Sáo giao trong giai đoạn này theo mức giá chào thầu cao nhất của kỳ gần nhất, như một giải pháp tình thế nhằm bảo đảm nguồn cung kịp thời trong bối cảnh thị trường biến động mạnh.
Còn phía Công ty Lọc hóa dầu Nghi Sơn cho biết, dựa trên các đánh giá hiện nay, hoạt động sản xuất của nhà máy chưa ghi nhận bất kỳ ảnh hưởng tức thời nào. Tuy nhiên, để phòng rủi ro căng thẳng kéo dài, nhà máy sẽ đẩy nhanh công tác đa dạng hóa nguồn dầu thô.
Đồng thời, Công ty Lọc hóa dầu Nghi Sơn sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Bộ Công Thương và các nhà đầu tư để bảo đảm an ninh nguồn cung và duy trì vận hành ổn định của nhà máy, góp phần đáp ứng nhu cầu năng lượng của Việt Nam.
Theo báo cáo của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN), hai nhà máy lọc dầu lớn trong nước là Dung Quất và Nghi Sơn vẫn đang vận hành bình thường, bảo đảm nguồn cung xăng dầu cho các thương nhân đầu mối theo hợp đồng đã ký đến hết tháng 3/2026.
Song song với nguồn sản xuất trong nước, các thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu vẫn đang tiếp tục nhập khẩu xăng dầu thành phẩm để cung ứng cho thị trường, dù chi phí nhập khẩu và vận chuyển có xu hướng tăng. Cùng với lượng dự trữ lưu thông tại doanh nghiệp theo quy định, nguồn cung xăng dầu cho thị trường trong tháng 3/2026 cơ bản được bảo đảm.
Tuy nhiên, nếu chiến sự tại Trung Đông kéo dài sang tháng 4, thị trường có thể đối mặt với nhiều khó khăn hơn. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cùng Bộ Công Thương và các Bộ, ngành liên quan đang khẩn trương chỉ đạo tháo gỡ vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất và nhập khẩu xăng dầu, nhằm bảo đảm đủ nguồn cung cho thị trường trong các tháng tiếp theo.
Mới đây, Bộ Công Thương đã công bố giá bán xăng dầu đồng loạt tăng từ 15h chiều ngày 7/3.
![]() |
| Bảng giá bán lẻ xăng dầu mới áp dụng từ chiều 15h ngày 7/3. Nguồn: Bộ Công Thương. |
Theo đó, xăng E5RON92 không cao hơn 25.226 đồng/lít (tăng 3.777 đồng/lít so với giá cơ sở hiện hành), thấp hơn xăng RON95-III 1.821 đồng/lít; xăng RON95-III không cao hơn 27.047 đồng/lít (tăng 4.707 đồng/lít so với giá cơ sở hiện hành); dầu diezen 0.05S không cao hơn 30.239 đồng/lít (tăng 7.207 đồng/lít so với giá cơ sở hiện hành); dầu hỏa không cao hơn 35.091 đồng/lít (tăng 8.490 đồng/lít so với giá cơ sở hiện hành); dầu madút 180CST 3.5S: không cao hơn 21.327 đồng/kg (tăng 3.831 đồng/kg so với giá cơ sở hiện hành).
Như vậy, tính từ đầu năm 2026 đến nay, giá xăng dầu trong nước đã trải qua 11 phiên điều chỉnh; trong đó xăng RON 95 có 4 lần giảm, 7 lần tăng; xăng E5RON92 có 4 lần giảm, 7 lần tăng; dầu điêzen có 2 lần giảm, 9 lần tăng.