Doanh nghiệp mong muốn đẩy nhanh lộ trình triển khai E10
Thông tin trên được ông Bùi Ngọc Bảo – Chủ tịch Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam - chia sẻ tại tọa đàm “Chủ động nguồn nguyên liệu, sẵn sàng cho lộ trình phối trộn và sử dụng nhiên liệu sinh học” do Báo Công Thương tổ chức chiều 14/3.
![]() |
| Ông Bùi Ngọc Bảo - Chủ tịch Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam. |
Theo ông Bảo, chương trình phát triển nhiên liệu sinh học tại Việt Nam đã được Chính phủ định hướng từ khá sớm. Giai đoạn 2014–2015, xăng sinh học E5 đã được triển khai tương đối đồng bộ trên phạm vi toàn quốc.
Theo lộ trình ban đầu, sau xăng E5, Việt Nam dự kiến tiếp tục triển khai xăng E10 trong giai đoạn 2020–2022. Tuy nhiên, do chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa các khâu trong chuỗi cung ứng nên việc đưa E10 vào sử dụng đại trà bị chậm hơn so với kế hoạch.
Bên cạnh xăng sinh học, nhiên liệu sinh học còn bao gồm các loại biodiesel như B5, B10. Những loại nhiên liệu này được xem là giải pháp hỗ trợ chuyển đổi xanh, giảm phát thải khí nhà kính và bảo vệ môi trường.
Đáng chú ý, với tỷ lệ phối trộn 5–10% ethanol như các loại E5, E10, B5, B10, mức độ phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch có thể giảm đáng kể. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với nền kinh tế có tỷ trọng nông nghiệp lớn như Việt Nam. Theo đó, chương trình nhiên liệu sinh học không chỉ tạo đầu ra ổn định cho nông sản như sắn, ngô, mà còn góp phần thúc đẩy liên kết giữa sản xuất nông nghiệp và công nghiệp chế biến.
Ông Bùi Ngọc Bảo cho biết, nếu mỗi năm Việt Nam tiêu thụ khoảng 26–26,5 triệu m³/tấn xăng dầu, thì với tỷ lệ phối trộn 10% ethanol, lượng nhiên liệu hóa thạch được thay thế sẽ ở mức đáng kể. Trong trường hợp tiếp tục nâng tỷ lệ phối trộn lên các mức E15, E20 hoặc B15, B20 như một số quốc gia đã áp dụng, hiệu quả giảm phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu sẽ còn rõ rệt hơn.
“Việt Nam hiện nay chỉ đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu xăng dầu trong nước, còn lại 70% phải nhập khẩu. Vì vậy, mọi chương trình giúp giảm phụ thuộc vào nguồn nhiên liệu hóa thạch đều có ý nghĩa chiến lược”, ông Bảo nhấn mạnh.
Hạ tầng kinh doanh xăng E10 đã được chuẩn bị
Về khả năng triển khai xăng E10 trên phạm vi toàn quốc, Chủ tịch Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam cho biết các doanh nghiệp trong ngành đã có sự chuẩn bị từ trước, nhờ kinh nghiệm triển khai xăng E5.
Khi xăng E10 được áp dụng đồng bộ từ ngày 1/6/2026, các doanh nghiệp sẽ phải điều chỉnh lại hệ thống kỹ thuật, kế hoạch nguồn nguyên liệu và chiến lược thị trường. Với những đơn vị chưa có cơ sở vật chất phục vụ pha chế, nhiều doanh nghiệp đã chủ động làm việc với các đầu mối lớn để thuê dịch vụ pha chế và lưu trữ.
“Các doanh nghiệp đều mong muốn đẩy nhanh lộ trình phân phối xăng E10 trên toàn quốc nhằm giảm phụ thuộc vào xăng khoáng trong bối cảnh khủng hoảng năng lượng toàn cầu”, ông Bùi Ngọc Bảo cho biết.
Trong khi đó, ông Hồ Ngọc Linh – Phó Trưởng phòng Kỹ thuật xăng dầu của Petrolimex cho biết: từ tháng 8/2025, doanh nghiệp đã triển khai thí điểm kinh doanh xăng E10 tại TP.Hồ Chí Minh.
Sau khi Thông tư 50/2025/TT-BCT được ban hành, Petrolimex đã đồng loạt triển khai nhiều giải pháp như đầu tư nâng cấp hệ thống kho pha chế, hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xây dựng kế hoạch chuyển đổi trong toàn hệ thống.
Hiện doanh nghiệp đã có 7 điểm kho pha chế sẵn sàng sản xuất xăng E10, cùng với mạng lưới hơn 2.800 cửa hàng xăng dầu trên toàn quốc. Petrolimex cũng đang đặt mục tiêu đẩy nhanh tiến độ triển khai sớm hơn lộ trình quy định.
Nhu cầu ethanol cho xăng E10 có thể đạt 1,1 triệu m³
Theo tính toán của Petrolimex, nhu cầu ethanol nhiên liệu (E100) phục vụ pha chế xăng E10 đối với hệ thống của doanh nghiệp vào khoảng 45.000 – 50.000 m³ mỗi tháng. Để bảo đảm nguồn cung, từ đầu tháng 3, Petrolimex đã chủ động đàm phán với các đối tác tại Mỹ, Singapore và Hàn Quốc, ký kết các hợp đồng cung cấp E100 ngắn hạn và dài hạn.
![]() |
| Để chủ động nguyên liệu cho xăng sinh học E10 cần có chính sách dài hạn và và chuỗi cung ứng bền vững. |
Ông Đỗ Minh Quân – đại diện Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương) thông tin, nhiên liệu sinh học sẽ được triển khai trên phạm vi toàn quốc từ ngày 1/6/2026.
Báo cáo của các thương nhân kinh doanh xăng dầu cho thấy tổng lượng xăng tiêu thụ năm 2025 đạt khoảng 11,37 triệu m³. Với tỷ lệ phối trộn E10, nhu cầu ethanol phục vụ pha chế có thể đạt khoảng 1,1 triệu m³ mỗi năm.
Việt Nam vẫn phải nhập khẩu phần lớn ethanol
Hiện nay, Việt Nam có 6 nhà máy sản xuất ethanol nhiên liệu. Nếu hoạt động tối đa theo công suất thiết kế, tổng sản lượng có thể đạt khoảng 400.000 – 500.000m³ mỗi năm, tương đương đáp ứng khoảng 40% nhu cầu E100 trong nước.
Như vậy, trong giai đoạn đầu triển khai xăng E10, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu khoảng 60% ethanol.
Theo ông Bùi Ngọc Bảo, nguồn cung ethanol phù hợp nhất hiện nay là từ Mỹ và Brazil, trong đó Mỹ được xem là thị trường đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên, do khoảng cách vận chuyển xa nên việc nhập khẩu ethanol đòi hỏi tàu có tải trọng lớn và hệ thống logistics phù hợp, thay vì nhập khẩu bằng nhiều lô nhỏ lẻ. Vì lẽ đó, Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam đã kiến nghị xem xét bãi bỏ thuế nhà thầu đối với ethanol và xăng dầu gửi kho ngoại quan.
Cũng theo ông Bảo, nếu tháo gỡ được vướng mắc này, Việt Nam có thể hình thành các trung tâm kho ngoại quan ethanol quy mô lớn. Khi đó, doanh nghiệp trong nước chỉ cần mua hàng trực tiếp từ kho trong nước, giúp giảm chi phí tồn trữ, giảm áp lực tài chính và hạ giá thành nhiên liệu.
Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Sinh Nhật Tân nhận định việc thúc đẩy sử dụng xăng sinh học E5 và E10 không chỉ giúp giảm phát thải so với xăng khoáng truyền thống mà còn góp phần bảo vệ môi trường, giảm phụ thuộc vào nguồn cung xăng khoáng nhập khẩu. "Thực tế đưa xăng E10 vào sử dụng thời gian qua cho thấy, chưa ghi nhận bất kỳ phản hồi tiêu cực nào từ người tiêu dùng về chất lượng xăng cũng như các tác động xấu của xăng E5, E10 đến hiệu suất hoạt động và tuổi thọ của các chi tiết động cơ xăng", ông Tân nói.
Tháng 11/2025, Bộ Công thương đã ban hành Thông tư 50 quy định tỷ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống, thay thế lộ trình trước đây. Thủ tướng Chính phủ cũng ban hành Chỉ thị số 07 ngày 26/2 về việc đẩy mạnh sản xuất và phối trộn nhiên liệu sinh học tại Việt Nam.
Đây được đánh giá là giải pháp thực tế nhằm ổn định nguồn cung ethanol và hỗ trợ phát triển thị trường xăng sinh học trong dài hạn.