Thứ hai 24/08/2026 09:21
Hotline: 024.355.63.010
Góc nhìn Chuyên gia

TS. Trần Xuân Lượng: Mở khóa mặt bằng sản xuất, không còn "xin - cho"

Theo TS. Trần Xuân Lượng quản lý tốt đất công nghiệp, loại bỏ cơ chế “xin – cho”, tạo môi trường minh bạch, doanh nghiệp tiếp cận đất đai hiệu quả, thúc đẩy sản xuất phát triển.
Luật hóa Nghị quyết 68 “cấp cứu” mặt bằng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa TS. Trần Xuân Lượng: Ngăn “tát vét” đất đai trước giờ sáp nhập

Trả lời phỏng vấn Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập, Tiến sĩ Trần Xuân Lượng - Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Đánh giá thị trường Bất động sản Việt Nam đã làm rõ những vấn đề bất cập trong quản lý đất công nghiệp, đề xuất mô hình minh bạch, công bằng giúp doanh nghiệp phát triển bền vững.

Phóng viên: Trên thực tế, nhiều dự án cụm công nghiệp rơi vào tình trạng đầu cơ đất, ông có thể giải thích rõ hơn nguyên nhân?

TS. Trần Xuân Lượng: Tình trạng đầu cơ đất trong các cụm công nghiệp hiện nay phần lớn bắt nguồn từ việc giao quá nhiều quyền lực cho doanh nghiệp được gọi là "chủ đầu tư hạ tầng". Trên thực tế, nhiều đơn vị được trao quyền thiết lập và triển khai dự án không tập trung vào việc xây dựng hạ tầng kỹ thuật như cam kết, mà lợi dụng quyền tiếp cận đất đai sớm để mua với giá thấp, sau đó chuyển nhượng lại cho doanh nghiệp sản xuất với giá cao gấp nhiều lần. Trong khi đó, nhiều khu công nghiệp vẫn thiếu đường kết nối, hạ tầng kỹ thuật yếu kém, và các thủ tục hành chính lại rườm rà, gây khó cho nhà đầu tư thực chất.

Nếu chuyển từ tư duy "phê duyệt – giao đất" sang mô hình Nhà nước chủ động lập quy hoạch tổng thể, công bố công khai các tiêu chuẩn kỹ thuật, sau đó để doanh nghiệp tự đầu tư, tự chịu trách nhiệm triển khai, thì sẽ thiết lập lại trật tự thị trường đất công nghiệp. Khi đó, giá trị của đất sẽ gắn với hiệu quả sản xuất – kinh doanh thay vì bị đẩy lên bởi kỳ vọng đầu cơ. Việc bỏ qua trung gian "chủ đầu tư hạ tầng" theo kiểu hiện nay cũng sẽ hạn chế méo mó thị trường, giảm gánh nặng cho doanh nghiệp đầu cuối.

TS. Trần Xuân Lượng: Mở khóa mặt bằng sản xuất, không còn
Tiến sĩ Trần Xuân Lượng - Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Đánh giá thị trường Bất động sản Việt Nam (Ảnh: Phan Chính)

Quan trọng hơn, mô hình này sẽ tạo ra sân chơi bình đẳng hơn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa – những đơn vị có ý tưởng đổi mới, sáng tạo nhưng không đủ năng lực tài chính để chạy đua với cơn sốt đất ảo. Khi chi phí tiếp cận đất đai phản ánh đúng giá trị sử dụng, chứ không phải kỳ vọng đầu tư lướt sóng, cơ hội sẽ được trao cho đúng người, đúng việc – thúc đẩy một hệ sinh thái công nghiệp lành mạnh và phát triển bền vững hơn.

Phóng viên: Vậy với doanh nghiệp nhỏ và vừa, yếu tố "vốn" là trở ngại rất lớn khi xin đất. ông có đề xuất nào về cách nhìn "vốn" mới phù hợp?

TS. Trần Xuân Lượng: Hiện nay, cách hiểu về “vốn” trong hoạt động sản xuất – kinh doanh vẫn còn rất hạn hẹp, chủ yếu gắn với tiền mặt hoặc khả năng tài chính trực tiếp của doanh nghiệp. Quan niệm này khiến nhiều chính sách, trong đó có chính sách giao đất, chỉ ưu tiên những đơn vị có năng lực tài chính lớn, bỏ qua những giá trị khác có tính chiến lược và bền vững không kém.

Trên thực tế, vốn cần được hiểu một cách toàn diện hơn. Đó không chỉ là tiền, mà còn bao gồm vốn đất đai, tài nguyên; vốn công nghệ, kỹ thuật, sáng chế; vốn trí tuệ dưới dạng mô hình sản xuất, bản quyền sản phẩm; và cả vốn xã hội như uy tín thương hiệu, mạng lưới đối tác, niềm tin của thị trường. Một doanh nghiệp trẻ với sản phẩm độc quyền, mô hình kinh doanh khả thi và được cộng đồng hỗ trợ tích cực – đó cũng là một thực thể có “vốn” và xứng đáng được tiếp cận tài nguyên đất đai để phát triển.

Vì vậy, cần đổi mới cách nhìn trong chính sách giao đất. Thay vì chỉ dựa trên khả năng chi trả, Nhà nước nên xem xét tổng thể năng lực sản xuất, trình độ công nghệ, đạo đức kinh doanh và tác động xã hội mà doanh nghiệp mang lại.

Chính nhờ cách tiếp cận này, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, sáng tạo – dù chưa có tiềm lực tài chính mạnh – cũng có cơ hội bình đẳng để hiện thực hóa các ý tưởng mang lại giá trị cho nền kinh tế. Ngược lại, nếu tiếp tục duy trì tư duy coi “tiền mặt là vua”, chúng ta có thể đang tự đánh rơi những nhân tố đổi mới tiềm năng ra khỏi sân chơi, để lại khoảng trống trong chiến lược phát triển công nghiệp gắn với đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Phóng viên: Vai trò của nhà nước trong mô hình mới cần thay đổi như thế nào, thưa ông?

TS. Trần Xuân Lượng: Trong mô hình quản lý cổ điển, Nhà nước đóng vai trò trung tâm trong quá trình giao đất, thông qua hàng loạt thủ tục phê duyệt, thẩm định và kiểm soát từng hạng mục đầu tư. Cách làm này không chỉ kéo dài thời gian thực hiện dự án mà còn tạo ra tâm lý "xin - cho", khiến quan hệ giữa chính quyền và doanh nghiệp trở nên lệch lạc, dễ phát sinh cơ chế ngầm.

Ngược lại, trong mô hình quản lý hiện đại, Nhà nước chuyển sang vai trò kiến tạo và giám sát. Thay vì can thiệp vào từng dự án cụ thể, Nhà nước cần chủ động lập quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 theo vùng lãnh thổ và định hướng ngành nghề, đồng thời ban hành một bộ tiêu chuẩn kỹ thuật đồng bộ, làm cơ sở để doanh nghiệp tự triển khai đầu tư. Bên cạnh đó, việc công bố công khai các quỹ đất, quy hoạch sử dụng và cấp quyền truy cập rõ ràng giúp xóa bỏ rào cản tiếp cận, tạo lập sân chơi minh bạch cho mọi thành phần kinh tế.

TS. Trần Xuân Lượng: Mở khóa mặt bằng sản xuất, không còn
Nhà nước đóng vai trò trung tâm trong quá trình giao đất, thông qua hàng loạt thủ tục phê duyệt, thẩm định (Ảnh: Phan Chính)

Chỉ cần có quy hoạch 1/500, quy chuẩn xây dựng, môi trường và phòng cháy chữa cháy rõ ràng, doanh nghiệp có thể thuê nhà thầu chuyên nghiệp triển khai toàn bộ mà không cần qua trung gian. Cách làm này giúp kiểm soát chi phí, tránh bị đội giá và loại bỏ những biến tướng làm méo mó giá trị thật của đất và hạ tầng.

Trọng tâm của mô hình này nằm ở khâu hậu kiểm – nơi Nhà nước đảm bảo các dự án tuân thủ đúng quy hoạch, tiêu chuẩn môi trường và hiệu quả sử dụng đất. Việc chuyển đổi từ mô hình "cấp phép – can thiệp" sang "kiến tạo – giám sát" chính là biểu hiện rõ nét của một nền quản trị công hiện đại, lấy hiệu quả và công bằng làm trọng tâm.

Phóng viên: Việc loại bỏ nhà đầu tư hạ tầng trung gian sẽ tạo điều kiện như thế nào cho doanh nghiệp?

TS. Trần Xuân Lượng: Cách tiếp cận mới trong quản lý đất công nghiệp đang mở ra một hướng đi đột phá: khôi phục lại giá trị thực của đất đai như một yếu tố đầu vào của sản xuất, thay vì là công cụ đầu cơ. Khi quy hoạch được thực hiện bài bản, tiêu chuẩn được công bố rõ ràng và quyền tiếp cận đất đai trở nên minh bạch, những doanh nghiệp thực sự có nhu cầu sản xuất sẽ không còn phải đi qua những "cửa sau" hay gánh chịu những khoản chi phí bất thành văn để được tiếp cận hạ tầng. Chi phí khởi sự kinh doanh vì thế giảm đáng kể, đồng thời khơi thông dòng vốn đổ vào sản xuất thực chất thay vì tiếp tục bị hút vào những cuộc săn đất mang tính đầu cơ.

Đối với Nhà nước, thay vì phải dàn trải ngân sách vào việc phát triển tràn lan các khu, cụm công nghiệp theo mô hình “bao cấp hạ tầng”, nguồn lực công có thể được tái phân bổ hiệu quả hơn cho các dự án trọng điểm như giao thông liên vùng, hạ tầng logistics hay số hóa quản lý đất đai. Doanh nghiệp, trong khi đó, sẽ chủ động đầu tư hệ thống hạ tầng nội khu dựa trên các tiêu chuẩn định sẵn – vừa tăng tốc độ triển khai, vừa giảm áp lực tài chính cho Nhà nước. Quan trọng hơn, khi đất đai được phân bổ đúng cho người có nhu cầu thực, xã hội sẽ tránh được cảnh tượng cụm công nghiệp “treo”, đất bị bỏ hoang hoặc những dự án mãi chỉ tồn tại trên giấy.

Cốt lõi của chuyển đổi này là sự thay đổi trong tư duy thể chế – chuyển từ cơ chế “xin – cho” sang mô hình quản trị minh bạch, đặt ra chuẩn rõ ràng và trao quyền công khai. Khi vai trò của Nhà nước được định vị lại từ “can thiệp trực tiếp” sang “thiết lập luật chơi và hậu kiểm nghiêm túc”, môi trường đầu tư sẽ trở nên công bằng, cạnh tranh và hiệu quả hơn.

Thế nhưng, câu hỏi đặt ra là: “Vì sao lại nhất thiết phải “giao hạ tầng cho đơn vị hạ tầng”? Hạ tầng cụm công nghiệp, xét cho cùng, chỉ gồm vài tuyến đường, hệ thống thoát nước, cấp điện cơ bản – có thực sự quá phức tạp đến mức Nhà nước không thể đảm nhận vai trò tổ chức đầu tư công khai, minh bạch? Hay vấn đề nằm ở chỗ khác – ở chính cách thiết kế thể chế hiện tại, nơi quyền lực và lợi ích đang lồng ghép với nhau, dẫn đến tình trạng “chủ đầu tư hạ tầng” nắm giữ thế độc quyền để định đoạt số phận doanh nghiệp phía dưới?

Phóng viên: Với tinh thần đổi mới đó, việc luật hóa Nghị quyết 198 của Quốc Hội có ý nghĩa gì cho cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa?

TS. Trần Xuân Lượng: Tôi cho rằng đây là một Nghị quyết giúp cho cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa “đâm chồi nẩy lộc” là cách tốt nhất để tạo mặt bằng sản xuất chuẩn hoá, làm nền tảng cho doanh nghiệp tự tin đầu tư. Không còn cảnh "xin - cho" quyền đất hay lo rủi ro pháp lý.

Luật hóa giúp doanh nghiệp nhỏ dễ có quyền tiếp cận, giảm chi phí ban đầu. Nhà nước chỉ cần hậu kiểm, công bố quy hoạch. Kinh tế Việt Nam sẽ hưởng lợi từ hàng ngàn doanh nghiệp được trao quyền tự chủ động.

Nếu chúng ta muốn Việt Nam trở thành trung tâm công nghiệp của khu vực, thì chỉ có con đường đi đó: luật hóa chuẩn quy hoạch, công khai quyền truy cập, và trao quyền để doanh nghiệp tự tin sáng tạo.

Xin cảm ơn ông!

Tin bài khác
145.000 tỷ đồng tín dụng nhà ở xã hội vì sao mới giải ngân 12.440 tỷ?

145.000 tỷ đồng tín dụng nhà ở xã hội vì sao mới giải ngân 12.440 tỷ?

Khoảng cách giữa 145.000 tỷ đồng tín dụng nhà ở xã hội được bố trí và 12.440 tỷ đồng đã giải ngân cho thấy bài toán của thị trường bất động sản không đơn giản là thiếu vốn. Dòng tiền chỉ thực sự phát huy tác dụng khi gặp đúng dự án, đúng nhu cầu và một cấu trúc tài chính đủ an toàn.
TS. Nguyễn Văn Đính: Bất động sản nghỉ dưỡng trước cơ hội mở chu kỳ tăng trưởng mới

TS. Nguyễn Văn Đính: Bất động sản nghỉ dưỡng trước cơ hội mở chu kỳ tăng trưởng mới

TS. Nguyễn Văn Đính cho rằng du lịch phục hồi, hạ tầng được đầu tư và chính sách dần tháo gỡ đang tạo nền tảng để bất động sản nghỉ dưỡng lấy lại niềm tin giai đoạn 2026-2027.
Bài 13: Sửa Luật Hỗ trợ DNNVV: Chính sách phải đến doanh nghiệp

Bài 13: Sửa Luật Hỗ trợ DNNVV: Chính sách phải đến doanh nghiệp

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ có ý nghĩa khi doanh nghiệp thực sự tiếp cận được, luật sửa đổi cần chuyển từ tư duy “có chính sách” sang bảo đảm doanh nghiệp biết được hỗ trợ gì, hỏi ai, hồ sơ ra sao và bao lâu có câu trả lời. Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập đã trao đổi cùng ông Nguyễn Trung Ngọc, Chánh Văn phòng Hiệp hội Doanh nghiệp thành phố Hải Phòng xung quanh vấn đề này.
TS. Nguyễn Văn Đính: Chung cư có thời hạn không làm mất quyền sở hữu nhà ở

TS. Nguyễn Văn Đính: Chung cư có thời hạn không làm mất quyền sở hữu nhà ở

Theo TS. Nguyễn Văn Đính, quy định thời hạn chung cư cần được hiểu là công cụ quản lý vòng đời công trình, không phải giới hạn quyền sở hữu, nhằm đảm bảo an toàn và minh bạch thị trường.
Luật sư Phạm Thanh Tuấn: Gỡ chồng chéo pháp lý để cứu thị trường bất động sản

Luật sư Phạm Thanh Tuấn: Gỡ chồng chéo pháp lý để cứu thị trường bất động sản

Luật sư Phạm Thanh Tuấn cảnh báo những xung đột pháp lý trong dự thảo luật mới đang làm tắc nghẽn giao dịch, đồng thời đề xuất giải pháp thực tiễn nhằm khơi thông thị trường bất động sản.
PGS.TS Trần Kim Chung: Số hóa, tài chính hóa định hình Luật Bất động sản mới

PGS.TS Trần Kim Chung: Số hóa, tài chính hóa định hình Luật Bất động sản mới

PGS.TS Trần Kim Chung nhấn mạnh Luật Kinh doanh bất động sản sửa đổi phải lấy số hóa, tài chính hóa làm trụ cột, đồng thời xử lý triệt để xung đột với Luật Đất đai.
TS. Nguyễn Văn Khôi: Sửa luật để kiến tạo thị trường bất động sản minh bạch

TS. Nguyễn Văn Khôi: Sửa luật để kiến tạo thị trường bất động sản minh bạch

TS. Nguyễn Văn Khôi nhấn mạnh sửa Luật Kinh doanh bất động sản phải hướng tới kiến tạo thị trường minh bạch, khơi thông nguồn lực, nâng cao hiệu quả phân bổ và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
TS. Sử Ngọc Khương: Dữ liệu số mở khóa minh bạch thị trường bất động sản

TS. Sử Ngọc Khương: Dữ liệu số mở khóa minh bạch thị trường bất động sản

TS. Sử Ngọc Khương cho rằng dữ liệu số là nền tảng cốt lõi giúp thị trường bất động sản minh bạch, giảm rủi ro, nâng cao hiệu quả đầu tư và tăng sức hút vốn dài hạn.
Nghịch lý rừng nhiều nhưng ngành gỗ vẫn thiếu nguyên liệu chế biến sâu

Nghịch lý rừng nhiều nhưng ngành gỗ vẫn thiếu nguyên liệu chế biến sâu

Kim ngạch xuất khẩu gỗ liên tục tăng, đưa Việt Nam trở thành một trong những trung tâm chế biến gỗ lớn của thế giới. Tuy nhiên, phía sau kết quả đó là nghịch lý khi phần lớn nguyên liệu vẫn được bán dưới dạng dăm gỗ và viên nén, trong khi các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ, ván nhân tạo lại thiếu gỗ nguyên liệu hợp pháp và có khả năng truy xuất để tạo ra sản phẩm có giá trị cao hơn.
PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân: Trung tâm tài chính quốc tế là chìa khóa bứt phá kinh tế

PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân: Trung tâm tài chính quốc tế là chìa khóa bứt phá kinh tế

Theo PGS. TS Nguyễn Hữu Huân,việc xây dựng Trung tâm Tài chính Quốc tế tại TP.HCM được kỳ vọng mở ra kênh huy động vốn dài hạn, giúp Việt Nam nâng cấp mô hình tăng trưởng và tiến gần hơn tới mục tiêu bứt phá kinh tế.
AI chỉ tạo ra tăng trưởng khi doanh nghiệp thiết kế lại cách làm việc

AI chỉ tạo ra tăng trưởng khi doanh nghiệp thiết kế lại cách làm việc

Từ kinh nghiệm điều hành một doanh nghiệp Việt Nam, bà Phạm Thị Thu Hằng - Nhà sáng lập kiêm Tổng Giám đốc 5S Media đề xuất mô hình ba vai trò và lộ trình năm bước giúp DNNVV biến AI từ công cụ tạo hiệu suất ngắn hạn thành năng lực vận hành có thể duy trì, nhân rộng và tạo giá trị lâu dài.
Doanh nghiệp nhà nước được định vị là lực lượng mở đường cho tăng trưởng mới

Doanh nghiệp nhà nước được định vị là lực lượng mở đường cho tăng trưởng mới

Trong bối cảnh nền kinh tế bước sang giai đoạn phát triển mới, doanh nghiệp nhà nước được xác định không chỉ bảo đảm vai trò chủ đạo mà còn phải tiên phong đầu tư vào các lĩnh vực nền tảng, tạo lập thị trường mới và dẫn dắt đổi mới sáng tạo để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
TS. Nguyễn Trí Hiếu: Vàng mất sức hút khi lãi suất cao, dòng tiền đang dịch chuyển mạnh

TS. Nguyễn Trí Hiếu: Vàng mất sức hút khi lãi suất cao, dòng tiền đang dịch chuyển mạnh

Theo TS. Nguyễn Trí Hiếu, giá vàng giảm sâu, lãi suất tăng mạnh và khủng hoảng niềm tin khiến dòng tiền rời bỏ kim loại quý, xu hướng này còn có thể kéo dài.
Giải bài toán vốn ngàn tỷ cho cuộc đua chuyển đổi xanh

Giải bài toán vốn ngàn tỷ cho cuộc đua chuyển đổi xanh

Áp lực giảm phát thải và đáp ứng hàng rào kỹ thuật quốc tế đang đẩy hàng ngàn doanh nghiệp vào cuộc đua đổi mới công nghệ. Dù nhu cầu vốn xanh cho mục tiêu Net Zero lên tới 368 tỷ USD, nhưng rào cản lớn nhất hiện nay không nằm ở sự thiếu hụt nguồn cung tiền, mà ở năng lực chứng minh hiệu quả kinh tế của chính doanh nghiệp.
Gỡ rào cản pháp lý an toàn thực phẩm cho doanh nghiệp nhỏ

Gỡ rào cản pháp lý an toàn thực phẩm cho doanh nghiệp nhỏ

Không ít vi phạm về an toàn thực phẩm của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh hiện nay không đến từ hành vi cố tình mà bắt nguồn từ việc thiếu thông tin và bất cập trong áp dụng quy định mới. Để gỡ rào cản này, Bộ Tư pháp đã phối hợp cùng cơ quan chức năng thành phố Đà Nẵng tổ chức hội nghị đối thoại trực tiếp, giúp cộng đồng kinh doanh nhận diện rủi ro và tuân thủ chuẩn mực ngay từ gốc.