Thứ năm 10/09/2026 18:44
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Góc nhìn Chuyên gia

TS Nguyễn Sĩ Dũng: Khi hạnh phúc trở thành chỉ số, đó là thước đo cao nhất của mọi chính sách

Theo TS Nguyễn Sĩ Dũng - nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, hạnh phúc của nhân dân cần trở thành chỉ số đo lường thực chất trong quản trị quốc gia, được tích hợp vào chu trình chính sách, cải cách bộ máy và chuyển đổi số.
TS Nguyễn Sĩ Dũng: Khi hạnh phúc trở thành chỉ số, đó là thước đo cao nhất của mọi chính sách
TS Nguyễn Sĩ Dũng - nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội

Hạnh phúc - mục tiêu tối thượng của quản trị quốc gia

Khát vọng hạnh phúc của nhân dân từ lâu đã là mục tiêu cao nhất của mọi mô hình quản trị. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện đại, hạnh phúc không thể chỉ dừng ở khẩu hiệu hay cảm xúc chung chung, mà cần trở thành chỉ số thực chất để định hướng và đánh giá chính sách.

Từ góc nhìn của một chuyên gia từng nhiều năm tham gia xây dựng chính sách, TS Nguyễn Sĩ Dũng – nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội – cho rằng một quốc gia chỉ có thể phát triển bền vững khi lấy hạnh phúc của người dân làm tiêu chuẩn vận hành.

Theo ông, hạnh phúc không phải là trạng thái được ban phát từ bên ngoài. Đó là năng lực để mỗi cá nhân sống một cuộc đời có ý nghĩa và chủ động. Vì vậy, trách nhiệm của nhà nước không phải là “làm cho dân vui”, mà là kiến tạo môi trường pháp lý, kinh tế và xã hội để mọi người có cơ hội vươn lên và tự xây dựng cuộc sống đáng sống cho mình.

Trong cách tiếp cận này, hạnh phúc không chỉ là mục tiêu đạo lý mà còn là tiêu chí vận hành của một nhà nước hiện đại.

Ba điều kiện để hạnh phúc trở thành chỉ số chính sách

Để biến khái niệm hạnh phúc từ khẩu hiệu thành chỉ số có thể đo lường và quản trị, TS Nguyễn Sĩ Dũng nhấn mạnh ba điều kiện cốt lõi.

Trước hết là định nghĩa hạnh phúc bằng những yếu tố có thể đo lường. Nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế đã xây dựng hệ thống chỉ số hạnh phúc dựa trên các tiêu chí cụ thể như mức độ tin cậy xã hội, cảm nhận công lý, sức khỏe tinh thần, chất lượng môi trường sống hay cơ hội phát triển cá nhân. Những yếu tố này không mang tính cảm tính mà là dữ liệu chính sách có thể thu thập, phân tích và so sánh.

Thứ hai là tích hợp các chỉ số hạnh phúc vào toàn bộ chu trình chính sách. Theo ông, một chính sách không nên chỉ được đánh giá bằng tăng trưởng kinh tế hay chỉ số GDP, mà cần xem xét tác động đến bình yên xã hội, niềm tin của người dân và chất lượng cuộc sống. Tăng trưởng kinh tế nhưng làm gia tăng bất bình đẳng, căng thẳng xã hội hoặc suy giảm niềm tin không thể coi là tiến bộ thực chất.

Thứ ba là xây dựng môi trường xã hội đáng sống. Hạnh phúc không thể nảy nở trong một môi trường thiếu minh bạch, nhiều rủi ro hay thiếu công bằng. Một xã hội với thủ tục hành chính gọn nhẹ, công lý gần dân, dịch vụ công tử tế và môi trường xanh chính là nền tảng cho hạnh phúc phổ quát.

Khi hạnh phúc trở thành chỉ số đánh giá chính sách, nó đồng thời trở thành tiêu chuẩn vận hành của nhà nước. Theo TS Nguyễn Sĩ Dũng, đây chính là phép thử cao nhất đối với mọi mô hình quản trị hiện đại.

Từ góc nhìn đó, TS Nguyễn Sĩ Dũng cho rằng các cải cách tổ chức bộ máy gần đây, đặc biệt là việc tinh gọn và tái thiết mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đều hướng tới mục tiêu cuối cùng là nâng cao hạnh phúc của người dân.

Ông phân tích rằng khi bộ máy hành chính cồng kềnh, thủ tục chồng chéo, người dân phải trả giá bằng thời gian, chi phí và sự bất tiện trong cuộc sống. Ngược lại, khi bộ máy tinh gọn, minh bạch và hiệu quả, gánh nặng giao dịch xã hội giảm xuống, chất lượng sống được cải thiện tự nhiên.

Theo TS Nguyễn Sĩ Dũng, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện trong mô hình mới mang lại ba hiệu quả lớn.

Thứ nhất, chính quyền được đưa lại gần dân hơn. Khoảng cách quyền lực rút ngắn giúp các vấn đề của người dân được giải quyết ở cấp hiểu rõ thực tế nhất.

Thứ hai, giảm chi phí vô hình cho xã hội. Mỗi thủ tục được cắt giảm không chỉ tiết kiệm thời gian mà còn tạo ra cảm giác thuận tiện và an tâm – những yếu tố trực tiếp cấu thành hạnh phúc đời sống.

Thứ ba, bộ máy trở nên linh hoạt và đủ năng lực đáp ứng kỳ vọng mới của xã hội. Trong thời đại tốc độ cao, người dân mong muốn chính quyền nhanh hơn, minh bạch hơn và chuyên nghiệp hơn. Khi bộ máy đáp ứng được những kỳ vọng này, cảm giác được tôn trọng của công dân cũng tăng lên – nền tảng tinh thần quan trọng của hạnh phúc.

Ông cho rằng cải cách lần này không chỉ là thay đổi cấu trúc hành chính mà còn là sự chuyển đổi triết lý quản trị: từ quản lý sang phục vụ, từ phức tạp sang đơn giản, từ tư duy bao cấp quyền lực sang tư duy trao quyền cho người dân.

Chuyển đổi số - nền tảng mới của hạnh phúc công dân

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, TS Nguyễn Sĩ Dũng nhấn mạnh rằng công nghệ không chỉ là công cụ kỹ thuật mà là yếu tố định hình trải nghiệm của công dân trong xã hội hiện đại.

Theo ông, hạnh phúc trong đời sống hiện đại đến từ ba yếu tố: sự thuận tiện, sự an tâm và cảm giác được tôn trọng. Chuyển đổi số có khả năng tạo ra cả ba yếu tố này.

Việc số hóa thủ tục hành chính giúp trả lại cho người dân nguồn lực quý giá nhất – thời gian. Thời gian tiết kiệm được từ các thủ tục trực tuyến có thể được dành cho công việc, gia đình và nghỉ ngơi, qua đó trực tiếp nâng cao chất lượng sống.

Dịch vụ công trực tuyến minh bạch cũng giúp giảm thiểu cơ chế “xin – cho”, bảo vệ phẩm giá công dân và củng cố niềm tin vào nhà nước. Thủ tục không phụ thuộc địa giới hành chính mở ra quyền lựa chọn linh hoạt cho người dân, tạo nên năng lực hạnh phúc trong thời đại số.

Theo TS Nguyễn Sĩ Dũng, khi công nghệ hiện đại hóa bộ máy và đồng thời nhân bản hóa cách phục vụ, lòng tin xã hội sẽ được củng cố. Niềm tin đó chính là một trong những thành tố quan trọng của hạnh phúc quốc gia.

Một điểm nhấn trong cách tiếp cận của TS Nguyễn Sĩ Dũng là quan niệm hạnh phúc không thể được ban phát mà phải được đồng kiến tạo. Người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà cần trở thành chủ thể tham gia xây dựng chính sách.

Để làm được điều này, theo ông, cần ba chuyển đổi quan trọng.

Thứ nhất là chuyển từ tư duy áp đặt sang tư duy đồng kiến tạo. Chính sách cần xuất phát từ trải nghiệm thực tế của người dân – cách họ di chuyển, làm việc, sinh sống và những băn khoăn trong đời sống hằng ngày.

Thứ hai là tạo cơ chế tham gia thuận tiện. Các nền tảng góp ý trực tuyến, hệ thống phản ánh thời gian thực, khảo sát mức độ hài lòng hay ứng dụng di động có thể giúp người dân trở thành “đồng thiết kế” chính sách một cách dễ dàng.

Thứ ba là xây dựng văn hóa đối thoại. Chính sách cần được điều chỉnh linh hoạt dựa trên phản hồi xã hội. Khi người dân cảm thấy tiếng nói của mình được lắng nghe, niềm tin và cảm giác gắn kết với nhà nước sẽ tăng lên.

Hạnh phúc phải bao trùm toàn dân

Theo TS Nguyễn Sĩ Dũng, một quốc gia chỉ thực sự hạnh phúc khi những nhóm yếu thế cũng được sống với phẩm giá và cơ hội phát triển. Vì vậy, chính sách an sinh cần được thiết kế theo hướng nâng cao năng lực sống chứ không chỉ hỗ trợ trước mắt.

Ông đề xuất ba trụ cột chính.

Thứ nhất là an sinh dựa trên phẩm giá. Người cao tuổi cần hệ thống chăm sóc dài hạn; người khuyết tật cần hạ tầng không rào cản; trẻ em bị bỏ rơi cần hệ thống chăm sóc thay thế chuyên nghiệp. Mục tiêu không chỉ là hỗ trợ mà là giúp họ sống có giá trị và tự tin.

Thứ hai là bảo đảm tiếp cận công bằng đối với y tế và giáo dục. Không ai nên bị đứt gãy cơ hội học tập hoặc chăm sóc sức khỏe chỉ vì hoàn cảnh kinh tế.

Thứ ba là tạo điều kiện để người yếu thế tham gia xã hội và có tiếng nói trong các chính sách liên quan đến mình. Khi mọi nhóm dân cư đều được lắng nghe và trao quyền, hạnh phúc quốc gia mới có thể bền vững.

Từ góc nhìn của TS Nguyễn Sĩ Dũng, khi hạnh phúc của người dân trở thành chỉ số vận hành, mọi cải cách – từ tinh gọn bộ máy, chuyển đổi số đến chính sách an sinh – đều có chung một đích đến.

Đó không chỉ là tăng trưởng kinh tế hay hiệu quả quản trị, mà là xây dựng một xã hội đáng sống, nơi mỗi người dân được tôn trọng, có cơ hội phát triển và có niềm tin vào tương lai.

Trong kỷ nguyên mới, theo ông, hạnh phúc của nhân dân không chỉ là khát vọng mà phải trở thành thước đo cao nhất của thành công quốc gia. Khi một đất nước vận hành theo tiêu chuẩn đó, sự hưng thịnh sẽ không chỉ thể hiện ở con số tăng trưởng, mà còn ở chất lượng sống và niềm tin của từng công dân.

Tin bài khác
Du lịch Việt Nam đứng trước bài toán nâng giá trị mỗi du khách

Du lịch Việt Nam đứng trước bài toán nâng giá trị mỗi du khách

Quy mô khách du lịch của Việt Nam đang tăng nhanh, nhưng chặng đường phía trước đòi hỏi nhiều hơn những kỷ lục về lượng khách. Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị mở ra định hướng chuyển mạnh sang du lịch chất lượng cao, thông minh, xanh, sáng tạo và có giá trị gia tăng lớn.
Đừng để “lớn lên” trở thành nỗi sợ của hộ kinh doanh!

Đừng để “lớn lên” trở thành nỗi sợ của hộ kinh doanh!

Hộ kinh doanh không thiếu năng lực làm ăn. Điều họ cần là một môi trường đủ đơn giản, minh bạch và dễ dự đoán để từ một cửa hàng nhỏ có thể trở thành một cơ sở sản xuất, một doanh nghiệp và xa hơn là một mắt xích trong chuỗi giá trị.
PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Trung tâm tài chính Quốc Tế Việt Nam có thể hút 10-30 tỷ USD /năm

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Trung tâm tài chính Quốc Tế Việt Nam có thể hút 10-30 tỷ USD /năm

Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, VIFC không thay thế ngân hàng hay chứng khoán mà mở ra kênh dẫn vốn mới, giúp Việt Nam tiếp cận dòng vốn quốc tế mà thị trường hiện tại chưa khai thác hết.
Đại tá, PGS. TS Nguyễn Huy Hoàng: Kinh tế tầm thấp mở động lực mới

Đại tá, PGS. TS Nguyễn Huy Hoàng: Kinh tế tầm thấp mở động lực mới

Đại tá, PGS. TS Nguyễn Huy Hoàng cho rằng kinh tế tầm thấp đang mở ra không gian tăng trưởng mới, nhưng Việt Nam cần xây dựng khung pháp lý đồng bộ, bảo đảm cân bằng giữa phát triển kinh tế với yêu cầu quốc phòng, an ninh.
Sân bay Long Thành và bài toán giữ khách ở lại Đồng Nai

Sân bay Long Thành và bài toán giữ khách ở lại Đồng Nai

Sân bay Long Thành sẽ mở rộng khả năng kết nối của Đồng Nai với du khách, nhà đầu tư và các dòng hàng hóa quốc tế. Nhưng để biến lợi thế giao thông thành doanh thu, địa phương cần kết nối du lịch, logistics, dịch vụ và doanh nghiệp thành một chuỗi trải nghiệm.
CEO DK Bike Bùi Thị Bích Đào: “Hòn đá tảng” về đất đai và nhân lực

CEO DK Bike Bùi Thị Bích Đào: “Hòn đá tảng” về đất đai và nhân lực

Theo Giám đốc DK Bike Bùi Thị Bích Đào, quỹ đất sản xuất và chất lượng nhân lực đang là hai điểm nghẽn lớn với doanh nghiệp tại Lạng Sơn. Bà kỳ vọng Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam sẽ đồng hành sâu sát hơn trong tháo gỡ chính sách và hỗ trợ doanh nghiệp.
145.000 tỷ đồng tín dụng nhà ở xã hội vì sao mới giải ngân 12.440 tỷ?

145.000 tỷ đồng tín dụng nhà ở xã hội vì sao mới giải ngân 12.440 tỷ?

Khoảng cách giữa 145.000 tỷ đồng tín dụng nhà ở xã hội được bố trí và 12.440 tỷ đồng đã giải ngân cho thấy bài toán của thị trường bất động sản không đơn giản là thiếu vốn. Dòng tiền chỉ thực sự phát huy tác dụng khi gặp đúng dự án, đúng nhu cầu và một cấu trúc tài chính đủ an toàn.
TS. Nguyễn Văn Đính: Bất động sản nghỉ dưỡng trước cơ hội mở chu kỳ tăng trưởng mới

TS. Nguyễn Văn Đính: Bất động sản nghỉ dưỡng trước cơ hội mở chu kỳ tăng trưởng mới

TS. Nguyễn Văn Đính cho rằng du lịch phục hồi, hạ tầng được đầu tư và chính sách dần tháo gỡ đang tạo nền tảng để bất động sản nghỉ dưỡng lấy lại niềm tin giai đoạn 2026-2027.
Bài 13: Sửa Luật Hỗ trợ DNNVV: Chính sách phải đến doanh nghiệp

Bài 13: Sửa Luật Hỗ trợ DNNVV: Chính sách phải đến doanh nghiệp

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ có ý nghĩa khi doanh nghiệp thực sự tiếp cận được, luật sửa đổi cần chuyển từ tư duy “có chính sách” sang bảo đảm doanh nghiệp biết được hỗ trợ gì, hỏi ai, hồ sơ ra sao và bao lâu có câu trả lời. Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập đã trao đổi cùng ông Nguyễn Trung Ngọc, Chánh Văn phòng Hiệp hội Doanh nghiệp thành phố Hải Phòng xung quanh vấn đề này.
TS. Nguyễn Văn Đính: Chung cư có thời hạn không làm mất quyền sở hữu nhà ở

TS. Nguyễn Văn Đính: Chung cư có thời hạn không làm mất quyền sở hữu nhà ở

Theo TS. Nguyễn Văn Đính, quy định thời hạn chung cư cần được hiểu là công cụ quản lý vòng đời công trình, không phải giới hạn quyền sở hữu, nhằm đảm bảo an toàn và minh bạch thị trường.
Luật sư Phạm Thanh Tuấn: Gỡ chồng chéo pháp lý để cứu thị trường bất động sản

Luật sư Phạm Thanh Tuấn: Gỡ chồng chéo pháp lý để cứu thị trường bất động sản

Luật sư Phạm Thanh Tuấn cảnh báo những xung đột pháp lý trong dự thảo luật mới đang làm tắc nghẽn giao dịch, đồng thời đề xuất giải pháp thực tiễn nhằm khơi thông thị trường bất động sản.
PGS.TS Trần Kim Chung: Số hóa, tài chính hóa định hình Luật Bất động sản mới

PGS.TS Trần Kim Chung: Số hóa, tài chính hóa định hình Luật Bất động sản mới

PGS.TS Trần Kim Chung nhấn mạnh Luật Kinh doanh bất động sản sửa đổi phải lấy số hóa, tài chính hóa làm trụ cột, đồng thời xử lý triệt để xung đột với Luật Đất đai.
TS. Nguyễn Văn Khôi: Sửa luật để kiến tạo thị trường bất động sản minh bạch

TS. Nguyễn Văn Khôi: Sửa luật để kiến tạo thị trường bất động sản minh bạch

TS. Nguyễn Văn Khôi nhấn mạnh sửa Luật Kinh doanh bất động sản phải hướng tới kiến tạo thị trường minh bạch, khơi thông nguồn lực, nâng cao hiệu quả phân bổ và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
TS. Sử Ngọc Khương: Dữ liệu số mở khóa minh bạch thị trường bất động sản

TS. Sử Ngọc Khương: Dữ liệu số mở khóa minh bạch thị trường bất động sản

TS. Sử Ngọc Khương cho rằng dữ liệu số là nền tảng cốt lõi giúp thị trường bất động sản minh bạch, giảm rủi ro, nâng cao hiệu quả đầu tư và tăng sức hút vốn dài hạn.
Nghịch lý rừng nhiều nhưng ngành gỗ vẫn thiếu nguyên liệu chế biến sâu

Nghịch lý rừng nhiều nhưng ngành gỗ vẫn thiếu nguyên liệu chế biến sâu

Kim ngạch xuất khẩu gỗ liên tục tăng, đưa Việt Nam trở thành một trong những trung tâm chế biến gỗ lớn của thế giới. Tuy nhiên, phía sau kết quả đó là nghịch lý khi phần lớn nguyên liệu vẫn được bán dưới dạng dăm gỗ và viên nén, trong khi các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ, ván nhân tạo lại thiếu gỗ nguyên liệu hợp pháp và có khả năng truy xuất để tạo ra sản phẩm có giá trị cao hơn.