Chủ nhật 19/04/2026 19:10
Hotline: 024.355.63.010
Góc nhìn Chuyên gia

TS. Bạch Tân Sinh: “Để hiện thực hóa Nghị quyết 57, doanh nghiệp cần chủ động đặt đầu bài"

Theo TS. Bạch Tân Sinh, Nghị quyết 57 mở ra cơ hội để doanh nghiệp chủ động đặt đầu bài, định hướng các công trình khoa học-công nghệ phục vụ nhu cầu thực tiễn.

Đã 4 tháng kể từ khi Nghị quyết 57 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới - sáng tạo và chuyển đổi số được ban hành, một luồng sinh khí mới đã lan tỏa mạnh mẽ trong hệ sinh thái nghiên cứu và đổi mới của Việt Nam nói chung cũng như doanh nghiệp Việt nói riêng. Nghị quyết không chỉ xác định khoa học và công nghệ là nền tảng, động lực then chốt cho phát triển kinh tế – xã hội mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược dài hạn trong việc kiến tạo tương lai đất nước bằng tri thức và công nghệ.

Nghị quyết 57 cũng đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tháo gỡ những “nút thắt” về thể chế, tài chính, cơ chế đầu tư và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao. Đặc biệt, với cam kết dành ít nhất 2% GDP cho hoạt động nghiên cứu và phát triển được xem là bước ngoặt mang tính đột phá, thể hiện quyết tâm mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là làm thế nào để huy động các nguồn lực đầu tư một cách hiệu quả cho khoa học - công nghệ và đổi mới - sáng tạo? Trao đổi với Tạp chí Doanh nghiệp & Hội nhập, TS. Bạch Tân Sinh – Viện Quản lý và Chính sách. Đại học Quốc gia Hà Nôi và Viện Nghiên cứu Kinh tế Tuần hoàn, Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh – đã chỉ ra một tiếp cận mới để Việt Nam có thể xây dựng chiến lược phát triển khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo hiệu quả trong giai đoạn nhiều biến động khôn lường hiện nay.

TS. Bạch Tân Sinh: “Để hiện thực hóa Nghị quyết 57, doanh nghiệp cần chủ động đặt đầu bài
TS. Bạch Tân Sinh – Viện Quản lý và Chính sách. Đại học Quốc gia Hà Nôi và Viện Nghiên cứu Kinh tế Tuần hoàn, Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh

Một điểm đột phá của Nghị quyết 57 hiện nay là cam kết tăng đầu tư cho R&D (Nghiên cứu và Triển khai thực nghiệm) lên 2% GDP vào năm 2030. Tuy nhiên, thực tế hiện nay, mức chi cho khoa học - công nghệ từ ngân sách còn thấp và gặp nhiều rào cản. Theo ông, đâu là thách thức lớn nhất trong việc huy động nguồn lực cho R&D tại Việt Nam?

TS. Bạch Tân Sinh: Nghị quyết 57 đã tăng mức chi cho hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Tuy nhiên, việc chi vào nội dung nào là vấn đề rất cần được xem xét cẩn trọng. Bởi với nguồn ngân sách không quá dồi dào, nếu chúng ta không có phương pháp xác định rõ các lĩnh vực ưu tiên thì việc tài trợ và đầu tư sẽ khó mang lại hiệu quả.

Trong bối cảnh thế giới đang đối mặt với những biến động khó lường, việc xây dựng một chiến lược đầu tư dài hạn cho khoa học - công nghệ là điều hết sức cần thiết. Trước đây, chúng ta thường áp dụng cách làm truyền thống là sử dụng phương pháp dự báo khoa học – công nghệ để xác định các lĩnh vực ưu tiên, sau đó mới tiến hành tài trợ và đầu tư. Tuy nhiên, phương pháp này hiện không còn phù hợp trong bối cảnh mới, khi mà khoa học – công nghệ luôn thay đổi nhanh chóng và khó đoán định.

Với nhiều yếu tố bất định như hiện nay, chúng ta cần thay đổi tầm nhìn chiến lược, cụ thể là áp dụng cách tiếp cận strategic foresight – tức tầm nhìn chiến lược dài hạn. Cách tiếp cận này sẽ giúp Việt Nam xây dựng được những kịch bản phát triển phù hợp với xu thế và năng lực thực tiễn. Trên cơ sở các kịch bản đó, chúng ta có thể xác định cách phân bổ nguồn lực tài trợ và đầu tư, đặc biệt là nguồn lực tài chính, một cách hợp lý và hiệu quả hơn, tập trung vào đúng các nội dung ưu tiên.

Đây chính là điều mà tôi cho rằng chúng ta cần thay đổi trong cách lập kế hoạch phát triển chiến lược, tài trợ và đầu tư cho khoa học - công nghệ và đổi mới - sáng tạo. Cụ thể, cần chuyển từ phương pháp dự báo để phân mục tài trợ và đầu tư sang xây dựng tầm nhìn chiến lược (strategic foresight), từ đó tạo ra các kịch bản phát triển và dựa vào đó xác định các ưu tiên cần tập trung.

Tất nhiên, các ưu tiên đó không chỉ nằm trong một ngành mà cần mang tính liên ngành, bởi các vấn đề ngày nay hầu hết đều vượt ra khỏi ranh giới của một lĩnh vực cụ thể.

Ví dụ, vấn đề phát triển bền vững ở Đồng bằng sông Cửu Long không chỉ là vấn đề quản lý tài nguyên nước, mà còn bao gồm các yếu tố như: phương thức canh tác, giải pháp nâng cao khả năng chống chịu của ngành nông nghiệp trước tác động của biến đổi khí hậu... Đây là những vấn đề mang tính chất liên ngành, xuyên ngành và cần giải pháp tổng thể.

Một ví dụ tiêu biểu nữa về cách tiếp cận strategic foresight là tập đoàn dầu khí Shell. Họ đã áp dụng phương pháp lập kịch bản foresight từ những năm 1970 để chủ động đối phó với cú sốc dầu mỏ. Nhờ đó, Shell không những vượt qua khủng hoảng mà còn củng cố được vị thế trên thị trường toàn cầu. Trong khi đó, nhiều dự báo truyền thống ở Mỹ về nhu cầu khai thác dầu mỏ lúc bấy giờ lại không chính xác do quá phụ thuộc vào dữ liệu cũ và xu hướng quá khứ.

Theo tôi, việc áp dụng cách tiếp cận strategic foresight sẽ giúp Việt Nam xây dựng được bức tranh toàn diện về các vấn đề cần giải quyết thông qua khoa học-công nghệ và đổi mới-sáng tạo.

TS. Bạch Tân Sinh: “Doanh nghiệp cần đặt đầu bài cho các công trình khoa học công nghệ”
Nghị quyết 57 đã khẳng định tầm quan trọng của khoa học, công nghệ trong chiến lược phát triển quốc gia

Ông đã nói rất nhiều vấn đề về phía cơ quan quản lý, vậy từ phía doanh nghiệp, để thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư mạnh mẽ hơn vào khoa học - công nghệ và đổi mới - sáng tạo đúng theo mong muốn mà Nghị quyết 57 đề ra, thì ông có kiến nghị gì

TS. Bạch Tân Sinh: Đối với doanh nghiệp, một trong những thách thức lớn hiện nay là làm sao để nhận thức được tầm quan trọng và sự cần thiết của việc đổi mới - sáng tạo, đặc biệt trong các lĩnh vực mà doanh nghiệp mong muốn chiếm lĩnh thị trường. Để đạt được điều này, doanh nghiệp cần có một kế hoạch cụ thể nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu và triển khai (R&D) và phát triển công nghệ thông tin – truyền thông (ICT) trong nội bộ.

Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ nguồn lực để đầu tư toàn diện cho nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Trong bối cảnh đó, một hướng đi hiệu quả là tận dụng sự hỗ trợ từ các trường đại học và viện nghiên cứu thông qua hình thức hợp tác. Cách làm này giúp doanh nghiệp tiếp cận được các công trình nghiên cứu có trình độ chuyên môn cao mà không cần tốn quá nhiều chi phí. Đây là một chiến lược thông minh

Để hiện thực hóa Nghị quyết 57, ngoài phía cơ quan quản lý, doanh nghiệp cần chủ động “đặt đầu bài” cho các công trình khoa học - công nghệ, nêu ra các vấn đề thực tiễn cần giải quyết, còn các viện và trường sẽ là đối tác đồng hành để phát triển giải pháp phù hợp. Trên cơ sở hợp tác đó, doanh nghiệp vừa đảm bảo các giải pháp đáp ứng được điều kiện thực tế sản xuất kinh doanh, vừa nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng hội nhập quốc tế.

TS. Bạch Tân Sinh: “Để hiện thực hóa Nghị quyết 57, doanh nghiệp cần chủ động đặt đầu bài
Thực trạng hiện nay, không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ nguồn lực để đầu tư toàn diện cho nghiên cứu và phát triển.

Nghị quyết 57 đặt ra các mục tiêu rất tham vọng, như đưa Việt Nam vào nhóm 50 quốc gia hàng đầu về năng lực cạnh tranh số vào năm 2030 và thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu về đổi mới sáng tạo vào năm 2045. Theo ông, để hiện thực hóa mục tiêu này, cần thay đổi gì về nhân lực và chính sách

TS. Bạch Tân Sinh: Tôi cho rằng những mục tiêu này hoàn toàn khả thi, nếu có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước, các đơn vị nghiên cứu, các trường đại học và cả phía doanh nghiệp. Nếu các bên có thể trao đổi một cách cởi mở, cùng nhau tìm ra các giải pháp và nâng cao hiệu quả đóng góp của khoa học - công nghệ và đổi mới - sáng tạo, thì chúng ta hoàn toàn có cơ sở để đạt được những mục tiêu đã đề ra.

Tôi hoàn toàn tin tưởng rằng doanh nghiệp sẽ là “cỗ máy” quan trọng giúp đất nước hiện thực hóa những khát vọng lớn lao đang ấp ủ.

Để làm được điều đó, cần có những thay đổi mang tính đột phá trong chính sách đào tạo, quản lý và sử dụng nguồn nhân lực. Đặc biệt, cần xây dựng môi trường nghiên cứu mang tính học thuật cao, tạo điều kiện để các nhóm và tổ chức nghiên cứu mạnh phát huy được vai trò của mình. Họ cũng cần được tạo cơ hội để nhanh chóng tham gia vào các hoạt động hợp tác trong nước và quốc tế, nhằm giúp Việt Nam cập nhật kịp thời các tiến bộ về khoa học - công nghệ và đổi mới - sáng tạo. Đây cũng chính là con đường giúp các công nghệ mới nhất được chuyển giao hiệu quả vào doanh nghiệp Việt Nam, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập toàn cầu.

Tôi xin dẫn một ví dụ điển hình về kinh nghiệm của Thái Lan trong việc xây dựng chính sách phát triển khoa học - công nghệ và hệ sinh thái đổi mới - sáng tạo mang tính chiến lược. Thái Lan đã xây dựng khung chính sách dựa trên bốn trụ cột: phát triển nguồn nhân lực; nghiên cứu và đổi mới sáng tạo để giải quyết các thách thức xã hội; nghiên cứu và đổi mới - sáng tạo nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; năng lực nghiên cứu khoa học , phát triển công nghệ và – đổi mới - sáng tạo để phát triển các vùng miền theo hướng bao trùm và bền vững.

Đặc biệt, Thái Lan đã triển khai chính sách BCG (Biological – Circular – Green), tức Sinh học – Tuần hoàn – Xanh , tập trung vào bốn lĩnh vực kinh tế chủ chốt: thực phẩm và nông nghiệp; y tế và chăm sóc sức khỏe; năng lượng, vật liệu và sinh hóa; du lịch và kinh tế sáng tạo. Đây là mô hình phát triển dựa trên lợi thế quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số. Chính sách BCG cũng gắn liền với các mục tiêu dài hạn như phát triển bền vững đến năm 2030 và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Kinh nghiệm từ Thái Lan cho thấy, Việt Nam cần sớm xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo gắn với phát triển chiến lược theo định hướng sứ mệnh (mission-oriented). Trên cơ sở đó, chúng ta có thể xác định một số lĩnh vực ưu tiên cấp quốc gia, tập trung vào những ngành có thế mạnh như nông nghiệp và du lịch – những lĩnh vực dựa trên lợi thế đa dạng sinh học tự nhiên của Việt Nam. Đồng thời, cần bảo đảm rằng các lựa chọn ưu tiên này sẽ đóng góp tích cực vào việc thực hiện thành công các mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam đến năm 2030.

Xin cảm ơn ông về những chia sẻ!

Tin bài khác
PGS. TS Trần Đình Thiên: Kinh tế Việt Nam 2026 đứng trước cơ hội lớn và thách thức kép

PGS. TS Trần Đình Thiên: Kinh tế Việt Nam 2026 đứng trước cơ hội lớn và thách thức kép

PGS. TS Trần Đình Thiên nhận định kinh tế Việt Nam 2026 duy trì đà tăng trưởng tích cực nhưng đối mặt nhiều rủi ro nội tại, đặc biệt là áp lực lãi suất, vốn và sức chống chịu yếu của doanh nghiệp nội địa.
PGS. TS Nguyễn Quang Tuyến: Cải cách thể chế mở đường bất động sản bứt phá

PGS. TS Nguyễn Quang Tuyến: Cải cách thể chế mở đường bất động sản bứt phá

Theo PGS. TS Nguyễn Quang Tuyến, cải cách thể chế, đặc biệt trong lĩnh vực đất đai và bất động sản, đang trở thành động lực cốt lõi giúp Việt Nam khơi thông nguồn lực, định hình không gian phát triển mới.
Ông Nguyễn Quang Thuân - Chủ tịch FiinGroup: Nâng hạng tín nhiệm mở đường vốn lớn

Ông Nguyễn Quang Thuân - Chủ tịch FiinGroup: Nâng hạng tín nhiệm mở đường vốn lớn

Theo ông Nguyễn Quang Thuân, Chủ tịch FiinGroup, nâng hạng tín nhiệm quốc gia và phát triển thị trường vốn đang trở thành chìa khóa giúp doanh nghiệp tiếp cận dòng vốn dài hạn, giảm phụ thuộc ngân hàng và bứt phá trong giai đoạn tăng trưởng mới.
TS. Trần Xuân Lượng: Hạ lãi suất là "đòn bẩy" khơi thông thị trường bất động sản 2026

TS. Trần Xuân Lượng: Hạ lãi suất là "đòn bẩy" khơi thông thị trường bất động sản 2026

Theo TS. Trần Xuân Lượng, việc hạ lãi suất đang được xem là cú hích quan trọng giúp phục hồi tổng cầu, khơi thông dòng vốn và mở ra chu kỳ tăng trưởng mới cho thị trường bất động sản.
Ông Nguyễn Văn Phúc: 40 năm lập pháp và khát vọng nâng tầm thể chế kinh tế

Ông Nguyễn Văn Phúc: 40 năm lập pháp và khát vọng nâng tầm thể chế kinh tế

Ông Nguyễn Văn Phúc nhấn mạnh chất lượng và ổn định pháp luật là nền tảng giúp doanh nghiệp tư nhân phát triển, tạo động lực tăng trưởng và nâng cao vị thế kinh tế Việt Nam.
TS Nguyễn Văn Đính: Bất động sản 2026 bước vào chu kỳ mới tăng trưởng bền vững

TS Nguyễn Văn Đính: Bất động sản 2026 bước vào chu kỳ mới tăng trưởng bền vững

Theo TS. Nguyễn Văn Đính, thị trường bất động sản quý 1/2026 đang tái cấu trúc mạnh mẽ, sàng lọc doanh nghiệp và tạo nền tảng vững chắc, mở ra chu kỳ phát triển mới dựa trên giá trị thực và niềm tin.
Luật sư Ngô Thái Ninh: Phải ngăn chặn hình sự hóa quan hệ kinh tế tạo niềm tin cho doanh nghiệp

Luật sư Ngô Thái Ninh: Phải ngăn chặn hình sự hóa quan hệ kinh tế tạo niềm tin cho doanh nghiệp

Theo Luật sư Ngô Thái Ninh, việc không hình sự hóa quan hệ kinh tế là nền tảng bảo vệ quyền tài sản, giúp doanh nghiệp yên tâm đầu tư, giảm rủi ro pháp lý.
Khi thế giới vượt mốc 3.028 tỷ phú – bản đồ quyền lực mới của nền kinh tế toàn cầu sẽ thế nào?

Khi thế giới vượt mốc 3.028 tỷ phú – bản đồ quyền lực mới của nền kinh tế toàn cầu sẽ thế nào?

Lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại, thế giới có hơn 3.028 tỷ phú – một cột mốc không chỉ mang ý nghĩa thống kê, mà phản ánh sự tái cấu trúc sâu sắc của quyền lực kinh tế toàn cầu. Theo công bố của Forbes, năm 2025 ghi nhận 3.028 tỷ phú với tổng tài sản lên tới 16,1 nghìn tỷ USD. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở con số, người ta sẽ bỏ lỡ điều quan trọng hơn: tài sản đang được tạo ra theo một logic hoàn toàn mới, và quyền lực kinh tế đang hội tụ vào một số ít ngành có khả năng định hình tương lai toàn cầu.
CEO Công ty Cổ phần Brandall Trần Mạnh Tùng: "Kinh tế hình ảnh" là “vũ khí mềm” của doanh nghiệp nhỏ và vừa

CEO Công ty Cổ phần Brandall Trần Mạnh Tùng: "Kinh tế hình ảnh" là “vũ khí mềm” của doanh nghiệp nhỏ và vừa

Trong bối cảnh thị trường ngày càng cạnh tranh, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn loay hoay tìm hướng đi bền vững. Không ít đơn vị lựa chọn chiến lược giá rẻ, bỏ qua yếu tố hình ảnh và thương hiệu. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, đây có thể là “cái bẫy” khiến doanh nghiệp khó bứt phá. Phóng viên Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập đã có cuộc trao đổi với ông Trần Mạnh Tùng – CEO Công ty Cổ phần Brandall – để làm rõ vai trò của “kinh tế hình ảnh” trong chiến lược phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay.
Phó Tổng Thư ký VCCI  Đậu Anh Tuấn: Doanh nghiệp tư nhân đã vươn mình thành động lực kinh tế quan trọng nhất

Phó Tổng Thư ký VCCI Đậu Anh Tuấn: Doanh nghiệp tư nhân đã vươn mình thành động lực kinh tế quan trọng nhất

Ông Đậu Anh Tuấn chia sẻ hành trình gần bốn thập kỷ phát triển của doanh nghiệp tư nhân Việt Nam, từ vị thế mờ nhạt đến động lực tăng trưởng, đồng thời chỉ ra những thách thức và định hướng tương lai.
TS. Bùi Thanh Minh: Thực thi chính sách là chìa khóa bứt phá kinh tế giai đoạn mới

TS. Bùi Thanh Minh: Thực thi chính sách là chìa khóa bứt phá kinh tế giai đoạn mới

Theo TS. Bùi Thanh Minh, cải cách hành chính phải chuyển trọng tâm sang thực thi hiệu quả, giảm mạnh thủ tục trung ương, tạo môi trường thuận lợi giúp doanh nghiệp phát triển bền vững trong giai đoạn 2026-2030.
TS. Nguyễn Đức Hiển: Khơi thông nguồn lực hình thành tập đoàn kinh tế dân tộc mạnh

TS. Nguyễn Đức Hiển: Khơi thông nguồn lực hình thành tập đoàn kinh tế dân tộc mạnh

Theo TS. Nguyễn Đức Hiển cần tháo gỡ rào cản thể chế, thúc đẩy liên kết doanh nghiệp và cải cách quản trị nhằm hình thành các tập đoàn kinh tế lớn, nâng cao nội lực và sức cạnh tranh quốc gia.
TS. Võ Trí Thành: Áp lực toàn cầu gia tăng, cần có chiến lược dài hạn

TS. Võ Trí Thành: Áp lực toàn cầu gia tăng, cần có chiến lược dài hạn

TS. Võ Trí Thành cho rằng Việt Nam cần chuẩn bị kịch bản dài hạn, nâng cao nội lực và chủ động thích ứng để bảo vệ tăng trưởng bền vững.
TS. Đinh Thế Hiển: Kinh tế năm 2026 đan xen giữa cơ hội bứt phá là những rào cản vĩ mô cần được kiểm soát chặt chẽ

TS. Đinh Thế Hiển: Kinh tế năm 2026 đan xen giữa cơ hội bứt phá là những rào cản vĩ mô cần được kiểm soát chặt chẽ

Theo TS. Đinh Thế Hiển phân tích với nhiều tín hiệu trái chiều, từ áp lực lạm phát, nhập siêu đến kỳ vọng tăng trưởng nhờ đầu tư hạ tầng chiến lược.
PGS. TS Trần Đình Thiên: Cần giải phóng hàng triệu tỷ đồng đang bị “đóng băng” trong các dự án

PGS. TS Trần Đình Thiên: Cần giải phóng hàng triệu tỷ đồng đang bị “đóng băng” trong các dự án

PGS. TS Trần Đình Thiên nhấn mạnh cần đổi mới tư duy thị trường, tháo gỡ điểm nghẽn pháp lý và khơi thông nguồn lực để đạt tăng trưởng bền vững.