Chủ nhật 12/04/2026 18:27
Hotline: 024.355.63.010
Góc nhìn Chuyên gia

TS. Bạch Tân Sinh: “Để hiện thực hóa Nghị quyết 57, doanh nghiệp cần chủ động đặt đầu bài"

Theo TS. Bạch Tân Sinh, Nghị quyết 57 mở ra cơ hội để doanh nghiệp chủ động đặt đầu bài, định hướng các công trình khoa học-công nghệ phục vụ nhu cầu thực tiễn.

Đã 4 tháng kể từ khi Nghị quyết 57 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới - sáng tạo và chuyển đổi số được ban hành, một luồng sinh khí mới đã lan tỏa mạnh mẽ trong hệ sinh thái nghiên cứu và đổi mới của Việt Nam nói chung cũng như doanh nghiệp Việt nói riêng. Nghị quyết không chỉ xác định khoa học và công nghệ là nền tảng, động lực then chốt cho phát triển kinh tế – xã hội mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược dài hạn trong việc kiến tạo tương lai đất nước bằng tri thức và công nghệ.

Nghị quyết 57 cũng đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tháo gỡ những “nút thắt” về thể chế, tài chính, cơ chế đầu tư và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao. Đặc biệt, với cam kết dành ít nhất 2% GDP cho hoạt động nghiên cứu và phát triển được xem là bước ngoặt mang tính đột phá, thể hiện quyết tâm mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là làm thế nào để huy động các nguồn lực đầu tư một cách hiệu quả cho khoa học - công nghệ và đổi mới - sáng tạo? Trao đổi với Tạp chí Doanh nghiệp & Hội nhập, TS. Bạch Tân Sinh – Viện Quản lý và Chính sách. Đại học Quốc gia Hà Nôi và Viện Nghiên cứu Kinh tế Tuần hoàn, Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh – đã chỉ ra một tiếp cận mới để Việt Nam có thể xây dựng chiến lược phát triển khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo hiệu quả trong giai đoạn nhiều biến động khôn lường hiện nay.

TS. Bạch Tân Sinh: “Để hiện thực hóa Nghị quyết 57, doanh nghiệp cần chủ động đặt đầu bài
TS. Bạch Tân Sinh – Viện Quản lý và Chính sách. Đại học Quốc gia Hà Nôi và Viện Nghiên cứu Kinh tế Tuần hoàn, Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh

Một điểm đột phá của Nghị quyết 57 hiện nay là cam kết tăng đầu tư cho R&D (Nghiên cứu và Triển khai thực nghiệm) lên 2% GDP vào năm 2030. Tuy nhiên, thực tế hiện nay, mức chi cho khoa học - công nghệ từ ngân sách còn thấp và gặp nhiều rào cản. Theo ông, đâu là thách thức lớn nhất trong việc huy động nguồn lực cho R&D tại Việt Nam?

TS. Bạch Tân Sinh: Nghị quyết 57 đã tăng mức chi cho hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Tuy nhiên, việc chi vào nội dung nào là vấn đề rất cần được xem xét cẩn trọng. Bởi với nguồn ngân sách không quá dồi dào, nếu chúng ta không có phương pháp xác định rõ các lĩnh vực ưu tiên thì việc tài trợ và đầu tư sẽ khó mang lại hiệu quả.

Trong bối cảnh thế giới đang đối mặt với những biến động khó lường, việc xây dựng một chiến lược đầu tư dài hạn cho khoa học - công nghệ là điều hết sức cần thiết. Trước đây, chúng ta thường áp dụng cách làm truyền thống là sử dụng phương pháp dự báo khoa học – công nghệ để xác định các lĩnh vực ưu tiên, sau đó mới tiến hành tài trợ và đầu tư. Tuy nhiên, phương pháp này hiện không còn phù hợp trong bối cảnh mới, khi mà khoa học – công nghệ luôn thay đổi nhanh chóng và khó đoán định.

Với nhiều yếu tố bất định như hiện nay, chúng ta cần thay đổi tầm nhìn chiến lược, cụ thể là áp dụng cách tiếp cận strategic foresight – tức tầm nhìn chiến lược dài hạn. Cách tiếp cận này sẽ giúp Việt Nam xây dựng được những kịch bản phát triển phù hợp với xu thế và năng lực thực tiễn. Trên cơ sở các kịch bản đó, chúng ta có thể xác định cách phân bổ nguồn lực tài trợ và đầu tư, đặc biệt là nguồn lực tài chính, một cách hợp lý và hiệu quả hơn, tập trung vào đúng các nội dung ưu tiên.

Đây chính là điều mà tôi cho rằng chúng ta cần thay đổi trong cách lập kế hoạch phát triển chiến lược, tài trợ và đầu tư cho khoa học - công nghệ và đổi mới - sáng tạo. Cụ thể, cần chuyển từ phương pháp dự báo để phân mục tài trợ và đầu tư sang xây dựng tầm nhìn chiến lược (strategic foresight), từ đó tạo ra các kịch bản phát triển và dựa vào đó xác định các ưu tiên cần tập trung.

Tất nhiên, các ưu tiên đó không chỉ nằm trong một ngành mà cần mang tính liên ngành, bởi các vấn đề ngày nay hầu hết đều vượt ra khỏi ranh giới của một lĩnh vực cụ thể.

Ví dụ, vấn đề phát triển bền vững ở Đồng bằng sông Cửu Long không chỉ là vấn đề quản lý tài nguyên nước, mà còn bao gồm các yếu tố như: phương thức canh tác, giải pháp nâng cao khả năng chống chịu của ngành nông nghiệp trước tác động của biến đổi khí hậu... Đây là những vấn đề mang tính chất liên ngành, xuyên ngành và cần giải pháp tổng thể.

Một ví dụ tiêu biểu nữa về cách tiếp cận strategic foresight là tập đoàn dầu khí Shell. Họ đã áp dụng phương pháp lập kịch bản foresight từ những năm 1970 để chủ động đối phó với cú sốc dầu mỏ. Nhờ đó, Shell không những vượt qua khủng hoảng mà còn củng cố được vị thế trên thị trường toàn cầu. Trong khi đó, nhiều dự báo truyền thống ở Mỹ về nhu cầu khai thác dầu mỏ lúc bấy giờ lại không chính xác do quá phụ thuộc vào dữ liệu cũ và xu hướng quá khứ.

Theo tôi, việc áp dụng cách tiếp cận strategic foresight sẽ giúp Việt Nam xây dựng được bức tranh toàn diện về các vấn đề cần giải quyết thông qua khoa học-công nghệ và đổi mới-sáng tạo.

TS. Bạch Tân Sinh: “Doanh nghiệp cần đặt đầu bài cho các công trình khoa học công nghệ”
Nghị quyết 57 đã khẳng định tầm quan trọng của khoa học, công nghệ trong chiến lược phát triển quốc gia

Ông đã nói rất nhiều vấn đề về phía cơ quan quản lý, vậy từ phía doanh nghiệp, để thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư mạnh mẽ hơn vào khoa học - công nghệ và đổi mới - sáng tạo đúng theo mong muốn mà Nghị quyết 57 đề ra, thì ông có kiến nghị gì

TS. Bạch Tân Sinh: Đối với doanh nghiệp, một trong những thách thức lớn hiện nay là làm sao để nhận thức được tầm quan trọng và sự cần thiết của việc đổi mới - sáng tạo, đặc biệt trong các lĩnh vực mà doanh nghiệp mong muốn chiếm lĩnh thị trường. Để đạt được điều này, doanh nghiệp cần có một kế hoạch cụ thể nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu và triển khai (R&D) và phát triển công nghệ thông tin – truyền thông (ICT) trong nội bộ.

Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ nguồn lực để đầu tư toàn diện cho nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Trong bối cảnh đó, một hướng đi hiệu quả là tận dụng sự hỗ trợ từ các trường đại học và viện nghiên cứu thông qua hình thức hợp tác. Cách làm này giúp doanh nghiệp tiếp cận được các công trình nghiên cứu có trình độ chuyên môn cao mà không cần tốn quá nhiều chi phí. Đây là một chiến lược thông minh

Để hiện thực hóa Nghị quyết 57, ngoài phía cơ quan quản lý, doanh nghiệp cần chủ động “đặt đầu bài” cho các công trình khoa học - công nghệ, nêu ra các vấn đề thực tiễn cần giải quyết, còn các viện và trường sẽ là đối tác đồng hành để phát triển giải pháp phù hợp. Trên cơ sở hợp tác đó, doanh nghiệp vừa đảm bảo các giải pháp đáp ứng được điều kiện thực tế sản xuất kinh doanh, vừa nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng hội nhập quốc tế.

TS. Bạch Tân Sinh: “Để hiện thực hóa Nghị quyết 57, doanh nghiệp cần chủ động đặt đầu bài
Thực trạng hiện nay, không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ nguồn lực để đầu tư toàn diện cho nghiên cứu và phát triển.

Nghị quyết 57 đặt ra các mục tiêu rất tham vọng, như đưa Việt Nam vào nhóm 50 quốc gia hàng đầu về năng lực cạnh tranh số vào năm 2030 và thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu về đổi mới sáng tạo vào năm 2045. Theo ông, để hiện thực hóa mục tiêu này, cần thay đổi gì về nhân lực và chính sách

TS. Bạch Tân Sinh: Tôi cho rằng những mục tiêu này hoàn toàn khả thi, nếu có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước, các đơn vị nghiên cứu, các trường đại học và cả phía doanh nghiệp. Nếu các bên có thể trao đổi một cách cởi mở, cùng nhau tìm ra các giải pháp và nâng cao hiệu quả đóng góp của khoa học - công nghệ và đổi mới - sáng tạo, thì chúng ta hoàn toàn có cơ sở để đạt được những mục tiêu đã đề ra.

Tôi hoàn toàn tin tưởng rằng doanh nghiệp sẽ là “cỗ máy” quan trọng giúp đất nước hiện thực hóa những khát vọng lớn lao đang ấp ủ.

Để làm được điều đó, cần có những thay đổi mang tính đột phá trong chính sách đào tạo, quản lý và sử dụng nguồn nhân lực. Đặc biệt, cần xây dựng môi trường nghiên cứu mang tính học thuật cao, tạo điều kiện để các nhóm và tổ chức nghiên cứu mạnh phát huy được vai trò của mình. Họ cũng cần được tạo cơ hội để nhanh chóng tham gia vào các hoạt động hợp tác trong nước và quốc tế, nhằm giúp Việt Nam cập nhật kịp thời các tiến bộ về khoa học - công nghệ và đổi mới - sáng tạo. Đây cũng chính là con đường giúp các công nghệ mới nhất được chuyển giao hiệu quả vào doanh nghiệp Việt Nam, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập toàn cầu.

Tôi xin dẫn một ví dụ điển hình về kinh nghiệm của Thái Lan trong việc xây dựng chính sách phát triển khoa học - công nghệ và hệ sinh thái đổi mới - sáng tạo mang tính chiến lược. Thái Lan đã xây dựng khung chính sách dựa trên bốn trụ cột: phát triển nguồn nhân lực; nghiên cứu và đổi mới sáng tạo để giải quyết các thách thức xã hội; nghiên cứu và đổi mới - sáng tạo nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; năng lực nghiên cứu khoa học , phát triển công nghệ và – đổi mới - sáng tạo để phát triển các vùng miền theo hướng bao trùm và bền vững.

Đặc biệt, Thái Lan đã triển khai chính sách BCG (Biological – Circular – Green), tức Sinh học – Tuần hoàn – Xanh , tập trung vào bốn lĩnh vực kinh tế chủ chốt: thực phẩm và nông nghiệp; y tế và chăm sóc sức khỏe; năng lượng, vật liệu và sinh hóa; du lịch và kinh tế sáng tạo. Đây là mô hình phát triển dựa trên lợi thế quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số. Chính sách BCG cũng gắn liền với các mục tiêu dài hạn như phát triển bền vững đến năm 2030 và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Kinh nghiệm từ Thái Lan cho thấy, Việt Nam cần sớm xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo gắn với phát triển chiến lược theo định hướng sứ mệnh (mission-oriented). Trên cơ sở đó, chúng ta có thể xác định một số lĩnh vực ưu tiên cấp quốc gia, tập trung vào những ngành có thế mạnh như nông nghiệp và du lịch – những lĩnh vực dựa trên lợi thế đa dạng sinh học tự nhiên của Việt Nam. Đồng thời, cần bảo đảm rằng các lựa chọn ưu tiên này sẽ đóng góp tích cực vào việc thực hiện thành công các mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam đến năm 2030.

Xin cảm ơn ông về những chia sẻ!

Tin bài khác
TS. Võ Trí Thành: Áp lực toàn cầu gia tăng, cần có chiến lược dài hạn

TS. Võ Trí Thành: Áp lực toàn cầu gia tăng, cần có chiến lược dài hạn

TS. Võ Trí Thành cho rằng Việt Nam cần chuẩn bị kịch bản dài hạn, nâng cao nội lực và chủ động thích ứng để bảo vệ tăng trưởng bền vững.
TS. Đinh Thế Hiển: Kinh tế năm 2026 đan xen giữa cơ hội bứt phá là những rào cản vĩ mô cần được kiểm soát chặt chẽ

TS. Đinh Thế Hiển: Kinh tế năm 2026 đan xen giữa cơ hội bứt phá là những rào cản vĩ mô cần được kiểm soát chặt chẽ

Theo TS. Đinh Thế Hiển phân tích với nhiều tín hiệu trái chiều, từ áp lực lạm phát, nhập siêu đến kỳ vọng tăng trưởng nhờ đầu tư hạ tầng chiến lược.
PGS. TS Trần Đình Thiên: Cần giải phóng hàng triệu tỷ đồng đang bị “đóng băng” trong các dự án

PGS. TS Trần Đình Thiên: Cần giải phóng hàng triệu tỷ đồng đang bị “đóng băng” trong các dự án

PGS. TS Trần Đình Thiên nhấn mạnh cần đổi mới tư duy thị trường, tháo gỡ điểm nghẽn pháp lý và khơi thông nguồn lực để đạt tăng trưởng bền vững.
TS. Cấn Văn Lực: Kinh tế Việt Nam  duy trì tăng trưởng tích cực trước biến động toàn cầu

TS. Cấn Văn Lực: Kinh tế Việt Nam duy trì tăng trưởng tích cực trước biến động toàn cầu

TS. Cấn Văn Lực chia sẻ kinh tế Việt Nam duy trì tăng trưởng tích cực, nhưng đối mặt nhiều áp lực từ lãi suất toàn cầu, lạm phát và rủi ro địa chính trị khó lường.
TS. Bùi Ngọc Sơn: Kỷ nguyên tiền rẻ khép lại, kinh tế Việt Nam đối mặt "gọng kìm" tỷ giá và lạm phát

TS. Bùi Ngọc Sơn: Kỷ nguyên tiền rẻ khép lại, kinh tế Việt Nam đối mặt "gọng kìm" tỷ giá và lạm phát

Theo TS. Bùi Ngọc Sơn, chuyên gia kinh tế độc lập, kỷ nguyên tiền rẻ đã kết thúc, áp lực lạm phát, tỷ giá và đầu tư công đang khiến dòng tiền dịch chuyển mạnh, tạo thách thức lớn cho kinh tế.
TS.  Phạm Xuân Hòe: Cân bằng tín dụng để đạt mục tiêu GDP 10%

TS. Phạm Xuân Hòe: Cân bằng tín dụng để đạt mục tiêu GDP 10%

Mục tiêu tăng trưởng GDP 10% đang mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra yêu cầu cao về cân đối nguồn lực. TS. Phạm Xuân Hòe nhấn mạnh cần kiểm soát hợp lý tín dụng và kỳ hạn vốn để đảm bảo ổn định bền vững.
Lãi suất tăng theo chu kỳ, bất động sản vẫn là kênh tích lũy dài hạn

Lãi suất tăng theo chu kỳ, bất động sản vẫn là kênh tích lũy dài hạn

Mặt bằng lãi suất vay mua nhà đang tăng trở lại, khiến không ít người mua và nhà đầu tư thận trọng hơn với quyết định xuống tiền. Tuy nhiên, theo góc nhìn chuyên gia, đây là diễn biến mang tính chu kỳ của thị trường tài chính, còn bất động sản về dài hạn vẫn là kênh tích lũy tài sản khó thay thế khi nhu cầu ở thực, đô thị hóa và tích lũy của người dân vẫn hiện hữu.
TS. Võ Trí Thành: Doanh nghiệp nông nghiệp phải vươn ra thị trường toàn cầu bền vững

TS. Võ Trí Thành: Doanh nghiệp nông nghiệp phải vươn ra thị trường toàn cầu bền vững

TS. Võ Trí Thành chỉ ra vai trò trung tâm của doanh nghiệp trong tái cấu trúc nông nghiệp, nhấn mạnh yêu cầu đổi mới thể chế, thích ứng biến đổi khí hậu và xây dựng thương hiệu quốc gia cho nông sản Việt.
Thanh toán số trở thành mảnh ghép chiến lược của du lịch Việt

Thanh toán số trở thành mảnh ghép chiến lược của du lịch Việt

Du lịch quốc tế phục hồi mạnh không chỉ mang thêm khách đến Việt Nam mà còn kéo theo dòng tiền xuyên biên giới tăng nhanh. Trong bối cảnh đó, thanh toán số không còn là công cụ hỗ trợ đơn thuần, mà đang trở thành một mắt xích quan trọng nếu du lịch Việt muốn nâng trải nghiệm, giữ được chi tiêu của du khách và tăng sức cạnh tranh.
TS. Nguyễn Văn Đính: Nêu giải pháp để minh bạch hóa thị trường bất động sản

TS. Nguyễn Văn Đính: Nêu giải pháp để minh bạch hóa thị trường bất động sản

TS. Nguyễn Văn Đính chia sẻ giải pháp kiểm soát trục lợi nhà ở xã hội, đồng thời nhấn mạnh vai trò chuẩn hóa môi giới nhằm nâng cao minh bạch và phát triển bền vững thị trường bất động sản Việt Nam.
4 ưu tiên để Việt Nam giữ an ninh năng lượng và tăng trưởng bền vững

4 ưu tiên để Việt Nam giữ an ninh năng lượng và tăng trưởng bền vững

Cú sốc năng lượng từ xung đột tại Trung Đông đang cho thấy an ninh năng lượng và chuyển dịch xanh không còn là hai mục tiêu có thể tách rời. Từ kinh nghiệm ứng phó của Australia, chuyên gia cho rằng Việt Nam cần tập trung vào 4 ưu tiên trọng tâm nếu muốn vừa giảm rủi ro phụ thuộc nhập khẩu, vừa giữ được đà tăng trưởng nhanh và bền vững.
TS. Cấn Văn Lực: Tăng trưởng hai con số cần đổi mới mô hình phát triển, nâng cao năng suất và đảm bảo bền vững

TS. Cấn Văn Lực: Tăng trưởng hai con số cần đổi mới mô hình phát triển, nâng cao năng suất và đảm bảo bền vững

Theo TS. Cấn Văn Lực, Việt Nam muốn đạt tăng trưởng hai con số cần đổi mới mô hình phát triển, nâng cao năng suất và đảm bảo bền vững, tránh đánh đổi ổn định kinh tế vĩ mô.
Hội đồng Hòa bình và tham vọng “giải cứu thế giới” vỡ nát bởi các quyết định của ông Donald Trump

Hội đồng Hòa bình và tham vọng “giải cứu thế giới” vỡ nát bởi các quyết định của ông Donald Trump

Khi tiếng súng vẫn chưa ngừng vang lên từ Ukraine đến Trung Đông, Giải Nobel Hòa bình 2026 đang trở thành thước đo nhạy cảm cho những rạn nứt của trật tự toàn cầu. Trong bối cảnh thế giới tiếp tục đối mặt với xung đột kéo dài, câu hỏi lớn không còn chỉ là ai xứng đáng được vinh danh, mà còn là: liệu hòa bình hôm nay vẫn được định nghĩa bằng đối thoại và đồng thuận, hay đang dần bị tái định nghĩa bởi sức mạnh, đòn bẩy quyền lực và các chiến dịch truyền thông chính trị. Nobel 2026 có gọi tên một ứng viên gây tranh cãi – Ông Donald Trump?
TS. Trần Công Thắng: Nông nghiệp môi trường tạo động lực tăng trưởng kinh tế bền vững mạnh mẽ

TS. Trần Công Thắng: Nông nghiệp môi trường tạo động lực tăng trưởng kinh tế bền vững mạnh mẽ

TS. Trần Công Thắng nhấn mạnh vai trò hợp nhất nông nghiệp và môi trường, mở ra dư địa tăng trưởng bền vững, đồng thời tạo động lực mới cho mục tiêu kinh tế đạt tăng trưởng hai con số.
TS. Võ Trí Thành: Khát vọng và cơ hội đưa kinh tế Việt Nam tăng trưởng bứt phá

TS. Võ Trí Thành: Khát vọng và cơ hội đưa kinh tế Việt Nam tăng trưởng bứt phá

TS. Võ Trí Thành nhấn mạnh Việt Nam đã bước sang giai đoạn phục hồi phát triển, cần tận dụng khát vọng và cơ hội công nghệ để đạt tăng trưởng cao, bền vững và nâng cao năng lực tự chủ.