Thứ sáu 23/01/2026 04:54
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Góc nhìn Chuyên gia

TS. Bạch Tân Sinh: “Để hiện thực hóa Nghị quyết 57, doanh nghiệp cần chủ động đặt đầu bài"

Theo TS. Bạch Tân Sinh, Nghị quyết 57 mở ra cơ hội để doanh nghiệp chủ động đặt đầu bài, định hướng các công trình khoa học-công nghệ phục vụ nhu cầu thực tiễn.

Đã 4 tháng kể từ khi Nghị quyết 57 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới - sáng tạo và chuyển đổi số được ban hành, một luồng sinh khí mới đã lan tỏa mạnh mẽ trong hệ sinh thái nghiên cứu và đổi mới của Việt Nam nói chung cũng như doanh nghiệp Việt nói riêng. Nghị quyết không chỉ xác định khoa học và công nghệ là nền tảng, động lực then chốt cho phát triển kinh tế – xã hội mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược dài hạn trong việc kiến tạo tương lai đất nước bằng tri thức và công nghệ.

Nghị quyết 57 cũng đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tháo gỡ những “nút thắt” về thể chế, tài chính, cơ chế đầu tư và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao. Đặc biệt, với cam kết dành ít nhất 2% GDP cho hoạt động nghiên cứu và phát triển được xem là bước ngoặt mang tính đột phá, thể hiện quyết tâm mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là làm thế nào để huy động các nguồn lực đầu tư một cách hiệu quả cho khoa học - công nghệ và đổi mới - sáng tạo? Trao đổi với Tạp chí Doanh nghiệp & Hội nhập, TS. Bạch Tân Sinh – Viện Quản lý và Chính sách. Đại học Quốc gia Hà Nôi và Viện Nghiên cứu Kinh tế Tuần hoàn, Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh – đã chỉ ra một tiếp cận mới để Việt Nam có thể xây dựng chiến lược phát triển khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo hiệu quả trong giai đoạn nhiều biến động khôn lường hiện nay.

TS. Bạch Tân Sinh: “Để hiện thực hóa Nghị quyết 57, doanh nghiệp cần chủ động đặt đầu bài
TS. Bạch Tân Sinh – Viện Quản lý và Chính sách. Đại học Quốc gia Hà Nôi và Viện Nghiên cứu Kinh tế Tuần hoàn, Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh

Một điểm đột phá của Nghị quyết 57 hiện nay là cam kết tăng đầu tư cho R&D (Nghiên cứu và Triển khai thực nghiệm) lên 2% GDP vào năm 2030. Tuy nhiên, thực tế hiện nay, mức chi cho khoa học - công nghệ từ ngân sách còn thấp và gặp nhiều rào cản. Theo ông, đâu là thách thức lớn nhất trong việc huy động nguồn lực cho R&D tại Việt Nam?

TS. Bạch Tân Sinh: Nghị quyết 57 đã tăng mức chi cho hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Tuy nhiên, việc chi vào nội dung nào là vấn đề rất cần được xem xét cẩn trọng. Bởi với nguồn ngân sách không quá dồi dào, nếu chúng ta không có phương pháp xác định rõ các lĩnh vực ưu tiên thì việc tài trợ và đầu tư sẽ khó mang lại hiệu quả.

Trong bối cảnh thế giới đang đối mặt với những biến động khó lường, việc xây dựng một chiến lược đầu tư dài hạn cho khoa học - công nghệ là điều hết sức cần thiết. Trước đây, chúng ta thường áp dụng cách làm truyền thống là sử dụng phương pháp dự báo khoa học – công nghệ để xác định các lĩnh vực ưu tiên, sau đó mới tiến hành tài trợ và đầu tư. Tuy nhiên, phương pháp này hiện không còn phù hợp trong bối cảnh mới, khi mà khoa học – công nghệ luôn thay đổi nhanh chóng và khó đoán định.

Với nhiều yếu tố bất định như hiện nay, chúng ta cần thay đổi tầm nhìn chiến lược, cụ thể là áp dụng cách tiếp cận strategic foresight – tức tầm nhìn chiến lược dài hạn. Cách tiếp cận này sẽ giúp Việt Nam xây dựng được những kịch bản phát triển phù hợp với xu thế và năng lực thực tiễn. Trên cơ sở các kịch bản đó, chúng ta có thể xác định cách phân bổ nguồn lực tài trợ và đầu tư, đặc biệt là nguồn lực tài chính, một cách hợp lý và hiệu quả hơn, tập trung vào đúng các nội dung ưu tiên.

Đây chính là điều mà tôi cho rằng chúng ta cần thay đổi trong cách lập kế hoạch phát triển chiến lược, tài trợ và đầu tư cho khoa học - công nghệ và đổi mới - sáng tạo. Cụ thể, cần chuyển từ phương pháp dự báo để phân mục tài trợ và đầu tư sang xây dựng tầm nhìn chiến lược (strategic foresight), từ đó tạo ra các kịch bản phát triển và dựa vào đó xác định các ưu tiên cần tập trung.

Tất nhiên, các ưu tiên đó không chỉ nằm trong một ngành mà cần mang tính liên ngành, bởi các vấn đề ngày nay hầu hết đều vượt ra khỏi ranh giới của một lĩnh vực cụ thể.

Ví dụ, vấn đề phát triển bền vững ở Đồng bằng sông Cửu Long không chỉ là vấn đề quản lý tài nguyên nước, mà còn bao gồm các yếu tố như: phương thức canh tác, giải pháp nâng cao khả năng chống chịu của ngành nông nghiệp trước tác động của biến đổi khí hậu... Đây là những vấn đề mang tính chất liên ngành, xuyên ngành và cần giải pháp tổng thể.

Một ví dụ tiêu biểu nữa về cách tiếp cận strategic foresight là tập đoàn dầu khí Shell. Họ đã áp dụng phương pháp lập kịch bản foresight từ những năm 1970 để chủ động đối phó với cú sốc dầu mỏ. Nhờ đó, Shell không những vượt qua khủng hoảng mà còn củng cố được vị thế trên thị trường toàn cầu. Trong khi đó, nhiều dự báo truyền thống ở Mỹ về nhu cầu khai thác dầu mỏ lúc bấy giờ lại không chính xác do quá phụ thuộc vào dữ liệu cũ và xu hướng quá khứ.

Theo tôi, việc áp dụng cách tiếp cận strategic foresight sẽ giúp Việt Nam xây dựng được bức tranh toàn diện về các vấn đề cần giải quyết thông qua khoa học-công nghệ và đổi mới-sáng tạo.

TS. Bạch Tân Sinh: “Doanh nghiệp cần đặt đầu bài cho các công trình khoa học công nghệ”
Nghị quyết 57 đã khẳng định tầm quan trọng của khoa học, công nghệ trong chiến lược phát triển quốc gia

Ông đã nói rất nhiều vấn đề về phía cơ quan quản lý, vậy từ phía doanh nghiệp, để thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư mạnh mẽ hơn vào khoa học - công nghệ và đổi mới - sáng tạo đúng theo mong muốn mà Nghị quyết 57 đề ra, thì ông có kiến nghị gì

TS. Bạch Tân Sinh: Đối với doanh nghiệp, một trong những thách thức lớn hiện nay là làm sao để nhận thức được tầm quan trọng và sự cần thiết của việc đổi mới - sáng tạo, đặc biệt trong các lĩnh vực mà doanh nghiệp mong muốn chiếm lĩnh thị trường. Để đạt được điều này, doanh nghiệp cần có một kế hoạch cụ thể nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu và triển khai (R&D) và phát triển công nghệ thông tin – truyền thông (ICT) trong nội bộ.

Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ nguồn lực để đầu tư toàn diện cho nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Trong bối cảnh đó, một hướng đi hiệu quả là tận dụng sự hỗ trợ từ các trường đại học và viện nghiên cứu thông qua hình thức hợp tác. Cách làm này giúp doanh nghiệp tiếp cận được các công trình nghiên cứu có trình độ chuyên môn cao mà không cần tốn quá nhiều chi phí. Đây là một chiến lược thông minh

Để hiện thực hóa Nghị quyết 57, ngoài phía cơ quan quản lý, doanh nghiệp cần chủ động “đặt đầu bài” cho các công trình khoa học - công nghệ, nêu ra các vấn đề thực tiễn cần giải quyết, còn các viện và trường sẽ là đối tác đồng hành để phát triển giải pháp phù hợp. Trên cơ sở hợp tác đó, doanh nghiệp vừa đảm bảo các giải pháp đáp ứng được điều kiện thực tế sản xuất kinh doanh, vừa nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng hội nhập quốc tế.

TS. Bạch Tân Sinh: “Để hiện thực hóa Nghị quyết 57, doanh nghiệp cần chủ động đặt đầu bài
Thực trạng hiện nay, không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ nguồn lực để đầu tư toàn diện cho nghiên cứu và phát triển.

Nghị quyết 57 đặt ra các mục tiêu rất tham vọng, như đưa Việt Nam vào nhóm 50 quốc gia hàng đầu về năng lực cạnh tranh số vào năm 2030 và thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu về đổi mới sáng tạo vào năm 2045. Theo ông, để hiện thực hóa mục tiêu này, cần thay đổi gì về nhân lực và chính sách

TS. Bạch Tân Sinh: Tôi cho rằng những mục tiêu này hoàn toàn khả thi, nếu có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước, các đơn vị nghiên cứu, các trường đại học và cả phía doanh nghiệp. Nếu các bên có thể trao đổi một cách cởi mở, cùng nhau tìm ra các giải pháp và nâng cao hiệu quả đóng góp của khoa học - công nghệ và đổi mới - sáng tạo, thì chúng ta hoàn toàn có cơ sở để đạt được những mục tiêu đã đề ra.

Tôi hoàn toàn tin tưởng rằng doanh nghiệp sẽ là “cỗ máy” quan trọng giúp đất nước hiện thực hóa những khát vọng lớn lao đang ấp ủ.

Để làm được điều đó, cần có những thay đổi mang tính đột phá trong chính sách đào tạo, quản lý và sử dụng nguồn nhân lực. Đặc biệt, cần xây dựng môi trường nghiên cứu mang tính học thuật cao, tạo điều kiện để các nhóm và tổ chức nghiên cứu mạnh phát huy được vai trò của mình. Họ cũng cần được tạo cơ hội để nhanh chóng tham gia vào các hoạt động hợp tác trong nước và quốc tế, nhằm giúp Việt Nam cập nhật kịp thời các tiến bộ về khoa học - công nghệ và đổi mới - sáng tạo. Đây cũng chính là con đường giúp các công nghệ mới nhất được chuyển giao hiệu quả vào doanh nghiệp Việt Nam, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập toàn cầu.

Tôi xin dẫn một ví dụ điển hình về kinh nghiệm của Thái Lan trong việc xây dựng chính sách phát triển khoa học - công nghệ và hệ sinh thái đổi mới - sáng tạo mang tính chiến lược. Thái Lan đã xây dựng khung chính sách dựa trên bốn trụ cột: phát triển nguồn nhân lực; nghiên cứu và đổi mới sáng tạo để giải quyết các thách thức xã hội; nghiên cứu và đổi mới - sáng tạo nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; năng lực nghiên cứu khoa học , phát triển công nghệ và – đổi mới - sáng tạo để phát triển các vùng miền theo hướng bao trùm và bền vững.

Đặc biệt, Thái Lan đã triển khai chính sách BCG (Biological – Circular – Green), tức Sinh học – Tuần hoàn – Xanh , tập trung vào bốn lĩnh vực kinh tế chủ chốt: thực phẩm và nông nghiệp; y tế và chăm sóc sức khỏe; năng lượng, vật liệu và sinh hóa; du lịch và kinh tế sáng tạo. Đây là mô hình phát triển dựa trên lợi thế quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số. Chính sách BCG cũng gắn liền với các mục tiêu dài hạn như phát triển bền vững đến năm 2030 và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Kinh nghiệm từ Thái Lan cho thấy, Việt Nam cần sớm xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo gắn với phát triển chiến lược theo định hướng sứ mệnh (mission-oriented). Trên cơ sở đó, chúng ta có thể xác định một số lĩnh vực ưu tiên cấp quốc gia, tập trung vào những ngành có thế mạnh như nông nghiệp và du lịch – những lĩnh vực dựa trên lợi thế đa dạng sinh học tự nhiên của Việt Nam. Đồng thời, cần bảo đảm rằng các lựa chọn ưu tiên này sẽ đóng góp tích cực vào việc thực hiện thành công các mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam đến năm 2030.

Xin cảm ơn ông về những chia sẻ!

Tin bài khác
Chuyên gia quy hoạch: Bất động sản Bãi Cháy hưởng lợi nhờ hạ tầng du lịch thăng hạng

Chuyên gia quy hoạch: Bất động sản Bãi Cháy hưởng lợi nhờ hạ tầng du lịch thăng hạng

Từ một bãi biển bình dân, Bãi Cháy đã “lột xác” thành nơi đáng sống, đáng đầu tư – đó là nhận định của KTS Trần Ngọc Chính, Chủ tịch Hội Quy hoạch và Phát triển đô thị Việt Nam khi chia sẻ về điểm đến du lịch hàng đầu miền Bắc.
Ông Hồ Quang Minh: Hiệp hội M&A Việt Nam mở cánh cửa kết nối thị trường toàn cầu

Ông Hồ Quang Minh: Hiệp hội M&A Việt Nam mở cánh cửa kết nối thị trường toàn cầu

Tại Diễn đàn M&A 2026, ông Hồ Quang Minh nhấn mạnh vai trò then chốt Hiệp hội M&A Việt Nam thúc đẩy chuẩn hóa thị trường, gia tăng minh bạch, nâng giá trị doanh nghiệp, kết nối dòng vốn quốc tế, mở rộng năng lực cạnh tranh.
Ông Phan Đức Hiếu: Sửa luật hỗ trợ doanh nghiệp, siết giám sát văn bản pháp luật hiệu quả

Ông Phan Đức Hiếu: Sửa luật hỗ trợ doanh nghiệp, siết giám sát văn bản pháp luật hiệu quả

Ông Phan Đức Hiếu đề xuất sớm sửa Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, đồng thời tăng cường giám sát chất lượng văn bản dưới luật nhằm tháo gỡ rào cản hành chính, kiến tạo môi trường kinh doanh minh bạch, công bằng.
Luật sư Phạm Văn Học: Hoàn thiện thể chế để doanh nghiệp y tế tư nhân dám đầu tư dài hạn

Luật sư Phạm Văn Học: Hoàn thiện thể chế để doanh nghiệp y tế tư nhân dám đầu tư dài hạn

Thực tiễn phát triển Bệnh viện Đa khoa Hùng Vương cho thấy, bên cạnh chủ trương xã hội hóa y tế, doanh nghiệp tư nhân vẫn gặp nhiều rào cản pháp lý. Theo luật sư – doanh nhân Phạm Văn Học, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế theo hướng đồng hành, kiến tạo.
Ông Nguyễn Hữu Thập: Đột phá AI và tháo gỡ "ma trận" pháp lý cho doanh nghiệp

Ông Nguyễn Hữu Thập: Đột phá AI và tháo gỡ "ma trận" pháp lý cho doanh nghiệp

Ông Nguyễn Hữu Thập kiến nghị ứng dụng AI quản lý hành chính, sửa quy định hồi tố gây rủi ro doanh nghiệp, thúc đẩy cải cách thủ tục, nâng hiệu quả điều hành
Bà Phạm Thị Hồng Yên: Thúc đẩy ESG và pháp lý số mở đường doanh nghiệp bứt phá bền vững

Bà Phạm Thị Hồng Yên: Thúc đẩy ESG và pháp lý số mở đường doanh nghiệp bứt phá bền vững

Bà Phạm Thị Hồng Yên cho rằng, việc lan tỏa ESG và xây dựng hệ thống trợ giúp pháp lý số giúp doanh nghiệp tháo gỡ rào cản pháp lý tiếp cận nguồn lực nâng năng lực cạnh tranh bền
TS. Nguyễn Hải Nam: Chuyển giao công nghệ Nhật Bản mở lối tín dụng mới cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

TS. Nguyễn Hải Nam: Chuyển giao công nghệ Nhật Bản mở lối tín dụng mới cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

TS. Nguyễn Hải Nam đề xuất tận dụng công nghệ Nhật Bản kết hợp cải cách tín dụng dựa dòng tiền giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng năng lực cạnh tranh đầu tư vững.
Luật sư Phạm Văn Học: 3 điểm nghẽn lớn của doanh nghiệp y tế tư nhân

Luật sư Phạm Văn Học: 3 điểm nghẽn lớn của doanh nghiệp y tế tư nhân

Trong tiến trình cải cách thể chế và thúc đẩy kinh tế tư nhân, nhiều doanh nghiệp y tế vẫn “dám nghĩ nhưng chưa dám làm”. Theo luật sư, doanh nhân Phạm Văn Học, nguyên nhân nằm ở các điểm nghẽn mang tính hệ thống của môi trường kinh doanh.
Tăng trưởng hai con số là lựa chọn chiến lược cho mô hình phát triển mới

Tăng trưởng hai con số là lựa chọn chiến lược cho mô hình phát triển mới

Mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số trong Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV không phải “tăng tốc bằng mọi giá”, mà là lựa chọn chiến lược cho một mô hình phát triển dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo và kỷ luật vĩ mô, theo PGS.TS Ngô Trí Long.
Ông Đặng Huy Đông: Chuyển đổi kép mở dư địa tăng trưởng GDP bền vững Việt Nam

Ông Đặng Huy Đông: Chuyển đổi kép mở dư địa tăng trưởng GDP bền vững Việt Nam

Theo ông Đặng Huy Đông chuyển đổi xanh và số có thể bổ sung 3% GDP mỗi năm, tạo nền tảng tăng trưởng hai chữ số, nâng sức cạnh tranh quốc gia, định vị Việt Nam trong kinh tế xanh.
Ông Jaime Amoedo Lucas: Việt Nam nên “xây bằng dữ liệu” để nâng sức cạnh tranh quốc gia

Ông Jaime Amoedo Lucas: Việt Nam nên “xây bằng dữ liệu” để nâng sức cạnh tranh quốc gia

Ông Jaime Amoedo Lucas, Chủ tịch, Giám đốc điều hành ESGI cho hay Green Digital Twin giúp Việt Nam tích hợp ESG chuyển đổi số tối ưu hạ tầng công nghiệp giảm phát thải bền vững.
Ông Farook Mahmood: Việt Nam củng cố lợi thế đầu tư giữa biến động lớn

Ông Farook Mahmood: Việt Nam củng cố lợi thế đầu tư giữa biến động lớn

Theo ông Farook Mahmood, Việt Nam hội tụ ổn định vĩ mô, lao động cạnh tranh, hạ tầng cải thiện, mạng lưới FTA rộng, song cần nâng dự báo pháp lý.
Ông Takayama Yusushi:Trụ cột Nhật Bản mở lộ trình bền vững nhà ở, Việt Nam có thể vận dụng

Ông Takayama Yusushi:Trụ cột Nhật Bản mở lộ trình bền vững nhà ở, Việt Nam có thể vận dụng

Ông Takayama Yusushi chia sẻ kinh nghiệm của Nhật Bản giải quyết khủng hoảng nhà ở, nhấn mạnh lãi suất thấp, quy hoạch đồng bộ, vai trò Nhà nước, gợi mở sách khả thi.
TS. Nguyễn Minh Phong: Chuẩn mực minh bạch định hình năng lực cạnh tranh quốc gia

TS. Nguyễn Minh Phong: Chuẩn mực minh bạch định hình năng lực cạnh tranh quốc gia

TS. Nguyễn Minh Phong nhấn mạnh vai trò chuẩn mực minh bạch trong nâng cao năng lực cạnh tranh, củng cố niềm tin thị trường, cải thiện quản trị doanh nghiệp, giúp nền kinh tế thích ứng hiệu quả trước biến động toàn cầu.
Triển vọng vĩ mô và thị trường chứng khoán Việt Nam 2026: Đi tìm những câu chuyện tăng trưởng thực

Triển vọng vĩ mô và thị trường chứng khoán Việt Nam 2026: Đi tìm những câu chuyện tăng trưởng thực

Bước sang năm 2026, kinh tế toàn cầu và Việt Nam cùng đứng trước một giai đoạn chuyển pha quan trọng. Khi chu kỳ nới lỏng tiền tệ toàn cầu dần chạm trần, chính sách bắt đầu phân hóa rõ nét giữa các nền kinh tế lớn, thì câu hỏi trung tâm của thị trường không còn là “tăng trưởng có hay không”, mà là tăng trưởng đến từ đâu và có bền vững hay không.