TP. Hồ Chí Minh và vùng phụ cận hiện có hơn 43.000 doanh nghiệp công nghiệp, cùng khoảng 90 khu công nghiệp, khu chế xuất. Riêng thành phố có 67 khu chế xuất, khu công nghiệp đã được thành lập, trong đó 58 khu đang hoạt động, tỷ lệ lấp đầy khoảng 70%.
Theo quy hoạch, tầm nhìn đến năm 2050, TP. Hồ Chí Minh sẽ phát triển 105 khu công nghiệp với tổng diện tích khoảng 50.000 ha. Như vậy, từ nay đến năm 2050, thành phố dự kiến phát triển thêm 38 khu với khoảng 23.000 ha.
Tuy nhiên, bài toán đặt ra không chỉ nằm ở mở rộng số lượng và diện tích mà quan trọng hơn là nâng chất lượng phát triển. Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), cho rằng thành phố vẫn đối mặt với những điểm nghẽn về hạ tầng kết nối, chi phí logistics, năng suất lao động và tỷ lệ nội địa hóa. Trong khi đó, tự động hóa và cạnh tranh quốc tế đang tạo sức ép ngày càng lớn lên các mô hình sản xuất truyền thống.
![]() |
| TP. Hồ Chí Minh tăng tốc tái cấu trúc khu công nghiệp |
Theo ông Phòng, chuyển đổi kép, gồm số hóa để nâng cao hiệu quả và xanh hóa để phát triển bền vững, đã trở thành yêu cầu tất yếu. Các khu công nghiệp, khu chế xuất hiện hữu như Tân Thuận, Tân Bình, Hiệp Phước, Cát Lái, Bình Chiểu cần từng bước chuyển đổi sang mô hình khu công nghiệp sinh thái, gắn với ứng dụng công nghệ cao.
Định hướng tái cấu trúc cũng được phân bổ theo lợi thế của từng không gian phát triển. Khu vực trung tâm TP. Hồ Chí Minh tập trung vào công nghiệp công nghệ cao; khu vực Bình Dương cũ chuyển từ công nghiệp truyền thống sang công nghiệp công nghệ cao, gắn với đổi mới sáng tạo và khoa học - công nghệ ở phía Bắc thành phố. Trong khi đó, khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu cũ phát huy thế mạnh kinh tế biển, cảng biển và khu thương mại tự do.
Việc mở rộng không gian sau hợp nhất tạo lợi thế lớn về quy mô, nhưng đồng thời gia tăng áp lực lên hạ tầng và môi trường. Là một trong những trung tâm công nghiệp lớn, TP. Hồ Chí Minh cũng tập trung nguồn phát thải khí nhà kính đáng kể. Vì vậy, kiểm soát phát thải và nâng hiệu quả sử dụng năng lượng đang trở thành một phần quan trọng trong quá trình tái cấu trúc.
Theo Đề án Chuyển đổi xanh TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2050, thành phố đặt mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 20% khu công nghiệp vận hành theo mô hình sinh thái, tăng lên 30% vào năm 2035. Toàn bộ khu công nghiệp, cụm công nghiệp cũng được định hướng lắp đặt điện mặt trời mái nhà, bảo đảm ít nhất 20% nhu cầu điện đến từ năng lượng tái tạo.
Ông Trần Văn Bích, nguyên Trưởng phòng Nghiên cứu phát triển kinh tế, Viện Nghiên cứu phát triển TP. Hồ Chí Minh, cho biết nhiều quốc gia và tập đoàn lớn đang áp dụng ngày càng chặt chẽ các tiêu chuẩn về môi trường, truy xuất nguồn gốc, kiểm kê khí nhà kính và giảm phát thải trong toàn bộ chuỗi cung ứng.
Sức ép này đang tác động trực tiếp đến doanh nghiệp sản xuất trong các khu công nghiệp. Nếu chậm đổi mới công nghệ, tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải trên mỗi sản phẩm, doanh nghiệp có nguy cơ mất đơn hàng hoặc bị loại khỏi chuỗi giá trị toàn cầu. Chuyển đổi xanh vì thế không còn đơn thuần là yêu cầu về môi trường mà ngày càng trở thành điều kiện để duy trì khả năng tiếp cận thị trường.
Song hành với xanh hóa, số hóa được xác định là trụ cột của quá trình tái cấu trúc. Ban Quản lý các khu chế xuất và công nghiệp TP. Hồ Chí Minh (HEPZA) đang hoàn thiện đề án trình UBND thành phố, bước đầu định hướng chuyển đổi 17 khu công nghiệp, khu chế xuất với tổng diện tích khoảng 3.800 ha sang mô hình thông minh, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big Data) và tự động hóa.
Ông Nguyễn Trung Tín, Phó Trưởng ban HEPZA, cho biết quá trình tái cấu trúc sẽ tập trung xử lý những tồn tại kéo dài, xây dựng các khu công nghiệp sinh thái, thông minh theo chuẩn quốc tế và tiếp tục cải cách thủ tục hành chính. Ứng dụng AI, IoT, Big Data và tự động hóa được xác định là nền tảng để hình thành các khu công nghiệp thông minh, đồng thời chuyển đổi các khu hiện hữu theo hướng sinh thái, thông minh và đa chức năng.
Ở góc độ thu hút đầu tư quốc tế, ông Mickaël Driol, CEO Mekong Partners, đồng Chủ tịch Ủy ban Sourcing, Phòng Thương mại Pháp tại Việt Nam, nhận định TP. Hồ Chí Minh đang đứng trước cơ hội đưa ngành công nghiệp lên những nấc thang giá trị cao hơn.
Theo ông Driol, các tập đoàn đa quốc gia hiện không chỉ tìm kiếm địa điểm đặt nhà máy mà còn quan tâm đến mạng lưới nhà cung cấp, năng lực kỹ thuật và các trung tâm điều hành khu vực. Khả năng kết nối giữa nhà máy, logistics, cảng biển, nguồn nhân lực và chuỗi cung ứng trong cùng một vùng kinh tế ngày càng trở thành yếu tố quyết định.
Điều này cho thấy sức cạnh tranh của khu công nghiệp không còn chủ yếu dựa trên quỹ đất và chi phí thuê, mà ngày càng phụ thuộc vào chất lượng của toàn bộ hệ sinh thái sản xuất.
Để đáp ứng yêu cầu mới, các chuyên gia cho rằng TP. Hồ Chí Minh cần nâng cao năng lực quản trị, minh bạch hóa dữ liệu và hạ tầng, xây dựng các mô hình nhà máy thông minh tham chiếu như “Lighthouse”, ứng dụng công nghệ 4.0 và tăng khả năng truy xuất chuỗi cung ứng.
Quá trình chuyển đổi cũng đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, chủ đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, doanh nghiệp và các tổ chức khoa học - công nghệ. Đây được xem là nền tảng để TP. Hồ Chí Minh chuyển từ lợi thế về quy mô sang lợi thế về chất lượng, công nghệ và năng lực kết nối chuỗi giá trị toàn cầu.