Thứ năm 01/10/2026 22:23
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Thủ tướng Chính phủ chỉ thị các giải pháp tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy sản xuất, tiêu thụ vật liệu xây dựng

27/08/2024 15:34
Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà vừa ký ban hành Chỉ thị 28/CT-TTg ngày 26/8/2024 của Thủ tướng Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, thúc đẩy sản xuất, tiêu thụ xi măng, sắt thép và vật liệu xây dựng.
Ảnh minh họa
Tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, thúc đẩy sản xuất, tiêu thụ xi măng, sắt thép và vật liệu xây dựng.

Chỉ thị nêu: Vật liệu xây dựng (VLXD) bao gồm xi măng, thép xây dựng, gạch ốp lát, sứ vệ sinh, kính xây dựng, vật liệu xây và các loại VLXD khác có vai trò rất quan trọng, phục vụ xây dựng cơ sở hạ tầng, đô thị, nhà ở trong thiết kế và phát triển đất nước. Các hoạt động sản xuất, tiêu thụ VLXD tác động đến việc giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm cho người lao động, bảo đảm an sinh xã hội.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, ngành VLXD nước ta gặp rất nhiều khó khăn, sản lượng sản xuất, tiêu thụ và doanh thu đều giảm sút, dẫn đến nguy cơ tác động đến nền kinh tế và ảnh hưởng đến tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước. Qua đánh giá của các Bộ, ngành, hiệp hội và các doanh nghiệp trong ngành cho thấy khó khăn chủ yếu bao gồm:

Một là, cơ chế chính sách để phát triển bền vững ngành VLXD còn có khoảng cách so với thực tiễn; phản ứng chính sách còn chưa kịp thời với các vấn đề phát sinh, cam kết quốc tế trong các Hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam là thành viên và các diễn biến nhanh trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ các sản phẩm VLXD. Cơ chế chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất VLXD ứng dụng khoa học công nghệ chưa được ban hành cụ thể.

Hai là, chi phí nhiên liệu than, dầu FO, khí nén thiên nhiên (CNG), khí gas hóa lỏng (LPG) và điện tăng cao. Các nguyên liệu sản xuất VLXD như đá vôi, đá sét, phụ gia làm xi măng; cát trắng silic, đá vôi, đolomit làm kính; cao lanh, felspat (tràng thạch) làm gạch ốp lát, sứ vệ sinh; cát để sản xuất vật liệu xây không nung (VLXKN), nguyên liệu đầu vào làm thép,… vẫn còn gặp khó khăn, có lúc chưa bảo đảm đủ ổn định để sản xuất.

Ba là, thị trường tiêu thụ VLXD trong nước và xuất khẩu gặp nhiều khó khăn do tổng cầu trong nước và thế giới đều giảm, chuỗi cung ứng bị đứt gẫy, thị trường bất động sản trong nước tăng trưởng chậm, nhiều công trình xây dựng, dự án trọng điểm về kết cấu hạ tầng chậm triển khai, phải hoãn hoặc giãn tiến độ; chi phí vận tải tăng cao; xuất khẩu clanhke, các sản phẩm VLXD sụt giảm do cạnh tranh gay gắt về giá bán sản phẩm từ các nhà sản xuất lớn trên thế giới, cộng với các quy định về hàng rào kỹ thuật tại các thị trường xuất khẩu; thị trường nội địa cạnh tranh gay gắt do sản phẩm nhập ngoại tăng lên đáng kể trong thời gian qua.

Bốn là, tình hình tài chính gặp khó khăn do các doanh nghiệp sản xuất VLXD, nhất là các doanh nghiệp xi măng có tỷ lệ vốn vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng lớn. Giai đoạn đầu khi mới vận hành nhà máy, các doanh nghiệp phải trả nợ vốn vay, cộng với lãi vay cao, dẫn đến áp lực trả nợ cả gốc và lãi lớn. Do tiêu thụ sản phẩm rất chậm trong thời gian gần đây, nhiều doanh nghiệp đã phải dừng một số dây chuyền sản xuất, dẫn đến dòng tiền để trả nợ cho ngân hàng và chi phí nguyên, nhiên liệu phục vụ sản xuất rất khó khăn. Nhiều nhà máy VLXD, đặc biệt là nhóm xi măng, thép xây dựng sản xuất không hiệu quả, thua lỗ, dẫn đến nợ xấu.

Năm là, tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng nhái liên quan đến VLXD vẫn chưa được giải quyết triệt để.

6 quan điểm chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ

Để khắc phục các khó khăn, vướng mắc nêu trên và thúc đẩy sản xuất, tiêu thụ xi măng, sắt thép và VLXD trong thời gian tới, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Thủ trưởng các cơ quan có liên quan quán triệt 6 quan điểm chỉ đạo:

1. Bám sát thực tiễn, kịp thời phản ứng nhanh chính sách với những vấn đề khó khăn, vướng mắc nổi lên, tổ chức thực hiện quyết liệt, mạnh mẽ trong lãnh đạo, chỉ đạo các hoạt động sản xuất, tiêu thụ xi măng, thép xây dựng và các loại VLXD khác.

2. Phát triển ngành VLXD bảo đảm hiệu quả, bền vững, đáp ứng cơ bản nhu cầu trong nước, tăng cường xuất khẩu các sản phẩm VLXD có giá trị kinh tế cao, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội.

3. Tiếp cận và ứng dụng nhanh nhất các thành tựu khoa học, công nghệ, quản lý nhất là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong sản xuất; nâng cao chất lượng sản phẩm; đa dạng hóa các chủng loại sản phẩm chất lượng cao, có giá trị kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu xây dựng.

4. Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên, tiết kiệm năng lượng, nguyên liệu, nhiên liệu trong sản xuất; khai thác sử dụng tiết kiệm tài nguyên khoáng sản; sử dụng tối đa các chất thải, phế thải của các ngành công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng và chất thải sinh hoạt làm nguyên liệu, nhiên liệu, phụ gia cho quá trình sản xuất theo hướng kinh tế tuần hoàn; hạn chế tối đa ảnh hưởng tới môi trường trong quá trình khai thác, chế biến, sử dụng khoáng sản và sản xuất VLXD theo hướng sản xuất xanh.

5. Phát huy, khuyến khích các nhà đầu tư, các thành phần kinh tế tham gia đầu tư, phát triển VLXD;

6. Phân bổ mạng lưới cơ sở sản xuất VLXD trên toàn quốc phù hợp với điều kiện về tự nhiên, xã hội của từng vùng, miền.

4 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm

Các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Thủ trưởng các cơ quan có liên quan tập trung thực hiện 4 nhiệm vụ và giải pháp sau:

1. Về cơ chế chính sách phát triển ngành:

- Rà soát các cơ chế, chính sách, thể chế để khuyến khích đầu tư phát triển ngành VLXD nhanh và bền vững, phục vụ sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, góp phần vào phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Cơ cấu lại thời hạn trả nợ, điều chỉnh giảm mặt bằng lãi suất cho vay cho các khách hàng, trong đó có doanh nghiệp trong ngành VLXD theo quy định pháp luật. Ban hành các chính sách ưu đãi về sử dụng rác thải sinh hoạt, rác thải công nghiệp, phế thải một số ngành công nghiệp như tro xỉ, thạch cao,… làm nhiên liệu, nguyên liệu thay thế trong sản xuất xi măng và các VLXD khác. Tăng cường công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực VLXD nhất là trong hoạt động sản xuất, tiêu thụ xi măng, thép xây dựng.

- Nghiên cứu điều chỉnh chính sách thuế về xuất khẩu sản phẩm clanhke xi măng để bảo đảm tính cạnh tranh với các nước cùng xuất khẩu mặt hàng này, đồng thời phù hợp với Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) về việc không đánh thuế xuất khẩu hàng hoá với các nước ký Hiệp định. Tăng cường các biện pháp về phòng vệ thương mại, hàng rào kỹ thuật, chống bán phá giá đối với các sản phẩm sắt thép, các sản phẩm VLXD như gạch ốp lát nhập khẩu, ván sợi gỗ (LDF/MDF/HDF), sứ vệ sinh, kính xây dựng… nhằm loại bỏ các hành vi cạnh tranh không công bằng và bảo đảm phù hợp với những quy định của Việt Nam và WTO.

2. Về áp dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi sản xuất của ngành, nhất là sản xuất xanh:

Chủ động đổi mới, áp dụng linh hoạt công nghệ cao, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn để giảm giá thành, nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm.

3. Về thị trường:

- Tăng cường dự báo diễn biến trong và ngoài nước để chủ động có các giải pháp ứng phó kịp thời, hiệu quả, giúp cho doanh nghiệp có các định hướng ổn định sản xuất, kinh doanh; chống buôn lậu, gian lận thương mại, chống hàng giả, hàng nhái; mở rộng thị trường cả trong và ngoài nước.

- Đẩy mạnh đầu tư công, xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi, đầu tư phát triển hạ tầng đô thị, nông thôn, các công trình quốc phòng, an ninh, công trình biển và hải đảo phục vụ dân sinh và phát triển kinh tế biển.

- Tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản, nhà ở; đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 33/NQ-CP ngày 11 tháng 3 năm 2023 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ và thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển an toàn, lành mạnh bền vững.

- Đẩy mạnh triển khai Đề án đầu tư xây dựng ít nhất 01 triệu căn hộ nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp và các chương trình, dự án xây dựng nhà ở khác để tiêu thụ VLXD.

- Nghiên cứu tăng tỷ lệ lựa chọn phương án sử dụng cầu cạn bê tông cốt thép đối với các dự án đường bộ cao tốc, đặc biệt là ở những vùng có yêu cầu thoát lũ, vùng đất yếu có chiều sâu lớn và những vùng thiếu vật liệu đắp nền đường như vùng đồng bằng sông Cửu Long; nghiên cứu sử dụng tối đa gia cố đất bằng xi măng trong xây dựng đường bộ tại khu vực đầu cầu, cống, các vị trí có chiều cao đắp lớn, các vị trí có chiều sâu đất yếu lớn,….

- Đẩy mạnh xây dựng các công trình chống biến đổi khí hậu như đê chắn sóng, các công trình chống sạt lở, gây lún đất các khu vực bị tác động.

- Ưu tiên đầu tư đường bê tông xi măng trong phát triển đường giao thông nông thôn miền núi, khu vực địa hình khó khăn, độ dốc lớn và tại những vùng, khu vực thường xuyên bị ngập nước.

4. Về hợp tác quốc tế:

Đẩy mạnh hợp tác đầu tư, chuyển giao khoa học kỹ thuật, công nghệ, quản trị doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả, tiết kiệm nguyên, nhiên liệu, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường trong lĩnh vực VLXD.

Hoàn thiện cơ chế, chính sách

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Xây dựng rà soát, đánh giá tình hình thực hiện Chiến lược phát triển vật liệu xây dựng thời kỳ 2021 - 2030, định hướng đến năm 2050 tại Quyết định số 1266/QĐ-TTg ngày 18 tháng 8 năm 2020; Chương trình phát triển VLXKN tại Việt Nam đến năm 2030 tại Quyết định số 2171/QĐ-TTg ngày 23 tháng 12 năm 2021 và các văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, đề án liên quan đến VLXD để điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế xã hội.

Triển khai hiệu quả Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản làm VLXD thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 tại Quyết định số 1626/QĐ-TTg ngày 15 tháng 12 năm 2023 và Kế hoạch thực hiện Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản làm VLXD thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 tại Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 24 tháng 7 năm 2024.

Đôn đốc các doanh nghiệp VLXD, đặc biệt là xi măng tiết giảm chi phí sản xuất, tiết kiệm năng lượng, đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ, tăng cường đầu tư các hệ thống phát điện nhiệt dư và sử dụng các loại nhiên liệu thay thế từ rác thải, sử dụng các nguyên liệu thay thế là phế thải của các ngành công nghiệp như tro xỉ, thạch cao.

Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách, tiêu chuẩn, quy chuẩn và triển khai các biện pháp về hàng rào kỹ thuật đối với các sản phẩm VLXD nhập khẩu, đặc biệt là gạch ốp lát, sứ vệ sinh và kính xây dựng, bảo đảm phù hợp với những quy định về Tự do thương mại của WTO; chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương tập trung tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản, đẩy mạnh triển khai Đề án đầu tư xây dựng ít nhất 01 triệu căn hộ nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp và các chương trình, dự án xây dựng nhà ở khác.

Bộ Công Thương khẩn trương trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chiến lược phát triển ngành thép Việt nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Trong đó, lĩnh vực thép xây dựng cần được bảo đảm cân đối cung cầu và đầu tư phát triển bền vững.

Bộ Công Thương phối hợp với Bộ Tài chính và các bộ, ngành liên quan nghiên cứu, đề xuất hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển lĩnh vực thép xây dựng như: các chính sách về thuế các loại (thuế nhập khẩu, thu nhập doanh nghiệp,…), thu hút đầu tư, xây dựng tiêu chuẩn quốc gia; phân cấp, phân quyền trong công tác quản lý lĩnh vực thép xây dựng.

Chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng và các bộ ngành liên quan trong việc xem xét hồ sơ đề nghị điều tra áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại, tiến hành điều tra theo quy định và kịp thời ban hành các biện pháp cụ thể về phòng vệ thương mại đối với các sản phẩm sắt thép và các sản phẩm VLXD như gạch ốp lát nhập khẩu, ván sợi gỗ (LDF/MDF/HDF), sứ vệ sinh, kính xây dựng… bảo đảm phù hợp với những quy định của pháp luật Việt Nam và WTO.

Chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các hội, hiệp hội nghề đẩy mạnh xúc tiến thương mại, tiếp cận thị trường nước ngoài để hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu clanhke và xi măng; thép xây dựng, tôn mạ và các sản phẩm thép.

Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư sản xuất vật liệu xây dựng

Bộ Tài chính chủ trì xây dựng Nghị định sửa đổi Nghị định số 26/2023/NĐ-CP ngày 31 tháng 5 năm 2023 về Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, Danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan; nghiên cứu, đề xuất điều chỉnh theo hướng áp dụng thuế suất thuế xuất khẩu mặt hàng clanhke xi măng ở mức phù hợp để tháo gỡ khó khăn về tiêu thụ sản phẩm hiện nay.

Chủ trì xây dựng Nghị định hướng dẫn Luật Thuế giá trị gia tăng (sửa đổi) sau khi được Quốc hội thông qua; nghiên cứu quy định về sản phẩm clanhke xi măng theo hướng "sản phẩm clanhke xi măng thuộc đối tượng chịu thuế GTGT" kể cả tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khuyến khích, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư sản xuất các sản phẩm VLXD trong nước có chất lượng thay thế VLXD nhập khẩu, thân thiện môi trường, các sản phẩm VLXD chế biến sâu để xuất khẩu theo cơ chế, chính sách hiện hành; tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư các trạm nghiền, trạm phân phối xi măng ở những địa phương không sản xuất được clanhke và có nguồn phụ gia, tận dụng được tro, xỉ, thạch cao của các nhà máy nhiệt điện.

Giải quyết kịp thời các thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư, thuê đất đối với các dự án đầu tư khai thác khoáng sản làm VLXD và sản xuất VLXD. Đồng thời, khi xem xét, quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư các dự án sản xuất VLXD cần cân nhắc kỹ để tránh việc đầu tư dư thừa, dẫn đến cung vượt cầu, gây lãng phí nguồn lực xã hội.

Đồng thời, các địa phương đẩy mạnh các dự án đầu tư công, nhà ở xã hội, xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi, đầu tư phát triển hạ tầng đô thị, nông thôn, phòng chống thiên tai trên địa bàn để tăng lượng sử dụng xi măng, sắt thép và các VLXD khác.

Cắt giảm chi phí sản xuất, giảm giá thành sản phẩm

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp VLXD phải đổi mới, áp dụng công nghệ sản xuất và phương thức quản lý hiện đại, nâng cao năng suất, chất lượng, giảm giá thành sản phẩm; rà soát, cắt giảm chi phí sản xuất đối với nguyên liệu, nhiên liệu than, dầu, khí đốt và điện; áp dụng các giải pháp nâng cao hiệu suất sử dụng năng lượng trong sản xuất, tận dụng các nguồn nhiên liệu giá rẻ từ phế thải để giảm chi phí sản xuất.

Đa dạng hoá sản phẩm VLXD, phù hợp các loại hình công trình xây dựng, điều kiện khí hậu, vùng miền khác nhau; tăng cường sản xuất các sản phẩm VLXD thay thế nhập khẩu đáp ứng nhu cầu thị trường; tìm kiếm, mở rộng thị trường, thúc đẩy xuất khẩu các sản phẩm VLXD với nhiều nước trên thế giới...

Phương Nhi

Tin bài khác
TP. Hồ Chí Minh tăng 17 bậc trên bảng xếp hạng tài chính toàn cầu

TP. Hồ Chí Minh tăng 17 bậc trên bảng xếp hạng tài chính toàn cầu

TP. Hồ Chí Minh vươn lên vị trí 67 trong bảng xếp hạng Trung tâm Tài chính Toàn cầu, tăng 17 bậc so với kỳ đánh giá tháng 3/2026. Kết quả này cho thấy vị thế tài chính của Thành phố đang được cải thiện, nhưng bài toán tiếp theo là biến thứ hạng thành sức hút dòng vốn thực tế.
Hạ tầng An Giang cần cất cánh trước khi rước “đại bàng” về xây tổ

Hạ tầng An Giang cần cất cánh trước khi rước “đại bàng” về xây tổ

APEC 2027 tại Phú Quốc đang đến gần, tạo thêm động lực để An Giang đẩy nhanh hạ tầng giao thông, tăng khả năng kết nối Rạch Giá, Long Xuyên, Phú Quốc với mạng lưới cao tốc, hàng không, đường thủy, qua đó mở rộng không gian phát triển và tạo thêm điều kiện thu hút các dòng vốn đầu tư mới.
Hà Nội mở đường tháo gỡ điểm nghẽn cho doanh nghiệp khoa học, công nghệ

Hà Nội mở đường tháo gỡ điểm nghẽn cho doanh nghiệp khoa học, công nghệ

Từ khó tiếp cận vốn, định giá tài sản trí tuệ đến bài toán thương mại hóa sản phẩm và tiếp cận thị trường, hàng loạt vướng mắc của doanh nghiệp khoa học, công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo và công nghệ số đã được Hà Nội trực tiếp lắng nghe, phân loại và đưa ra hướng xử lý.
Công nghiệp công nghệ số tăng tốc, doanh thu 9 tháng vượt 5,38 triệu tỷ đồng

Công nghiệp công nghệ số tăng tốc, doanh thu 9 tháng vượt 5,38 triệu tỷ đồng

Doanh thu công nghiệp công nghệ số tháng 9/2026 ước đạt 770.766 tỷ đồng, tăng 36% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng, lĩnh vực này đạt khoảng 5,39 triệu tỷ đồng, tăng 32,1%, tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cao.
Cần 846.000 tỷ đồng để phát triển cao tốc giai đoạn 2026 - 2030

Cần 846.000 tỷ đồng để phát triển cao tốc giai đoạn 2026 - 2030

Giai đoạn 2026 - 2030, nhu cầu vốn phát triển cao tốc ước khoảng 1,269 triệu tỷ đồng, trong đó khoảng 846.000 tỷ đồng cần tiếp tục cân đối, huy động. Bộ Xây dựng đang xúc tiến 29 dự án ưu tiên theo phương thức PPP.
Việt Nam hướng tới hệ sinh thái công nghệ mới, không chỉ dừng ở ứng dụng AI

Việt Nam hướng tới hệ sinh thái công nghệ mới, không chỉ dừng ở ứng dụng AI

Việt Nam đang chuyển trọng tâm từ mở rộng hạ tầng và gia tăng ứng dụng AI sang xây dựng một hệ sinh thái công nghệ có sự tham gia của Nhà nước, doanh nghiệp, trường đại học và tổ chức nghiên cứu. Mục tiêu là nâng cao năng lực phát triển, tích hợp, vận hành và từng bước làm chủ các công nghệ mới.
Standard Chartered dự báo GDP Việt Nam quý III tăng 8,7%

Standard Chartered dự báo GDP Việt Nam quý III tăng 8,7%

Standard Chartered dự báo GDP Việt Nam quý III/2026 tăng 8,7% so với cùng kỳ, nhỉnh hơn mức 8,4% của quý II. Sản xuất công nghiệp, xuất nhập khẩu và nhu cầu trong nước được kỳ vọng tiếp tục tạo lực đỡ cho tăng trưởng, trong khi môi trường kinh tế bên ngoài vẫn tiềm ẩn những yếu tố khó đoán.
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Cần siết chặt các quy định trong dự thảo Luật Đất đai

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Cần siết chặt các quy định trong dự thảo Luật Đất đai

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu tiếp tục rà soát dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) theo hướng tập trung vào những nguyên tắc cốt lõi, quy định chặt chẽ các vấn đề liên quan đến tài sản Nhà nước, đấu giá đất và hợp đồng BT, bảo đảm luật có tính khả thi và hạn chế vướng mắc khi triển khai.
Bài 18: Luật mới sẽ mở thêm những cánh cửa nào cho doanh nghiệp nhỏ và vừa?

Bài 18: Luật mới sẽ mở thêm những cánh cửa nào cho doanh nghiệp nhỏ và vừa?

Từ miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 3 năm, hỗ trợ tín dụng dựa trên dòng tiền đến voucher hỗ trợ chi phí, dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đang mở rộng đáng kể các công cụ chính sách dành cho khu vực này.
Đồng Nai còn bao nhiêu dư địa để tăng tốc trong quý IV?

Đồng Nai còn bao nhiêu dư địa để tăng tốc trong quý IV?

Sau 6 tháng, kinh tế Đồng Nai tăng 9,81%, trong đó công nghiệp - xây dựng tăng 11,84%. Phần việc còn lại đòi hỏi thêm lực đẩy từ đầu tư, sản xuất và thị trường.
FDI vào nhiều, Việt Nam giữ lại bao nhiêu giá trị?

FDI vào nhiều, Việt Nam giữ lại bao nhiêu giá trị?

ADB nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam năm 2026 lên 7,8%, nhưng cùng với dòng vốn FDI ngày càng lớn, bài toán quan trọng hơn là nâng năng suất, tăng liên kết với doanh nghiệp trong nước và giữ lại nhiều hơn giá trị gia tăng trong nền kinh tế.
Đề xuất tăng tỷ lệ nhiệm vụ khoa học có doanh nghiệp tham gia từ năm 2027

Đề xuất tăng tỷ lệ nhiệm vụ khoa học có doanh nghiệp tham gia từ năm 2027

Một tỷ lệ tối thiểu các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại viện nghiên cứu, trường đại học có doanh nghiệp tham gia đang được đề xuất nghiên cứu, với định hướng xem xét triển khai từ năm 2027. Đây được đặt trong yêu cầu tăng khả năng ứng dụng, chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước.
Bài 17: Sửa luật để doanh nghiệp nhỏ và vừa lớn lên

Bài 17: Sửa luật để doanh nghiệp nhỏ và vừa lớn lên

Một doanh nghiệp nhỏ muốn lớn lên không chỉ cần vốn. Họ cần một môi trường mà ở đó chi phí tuân thủ không tăng nhanh hơn doanh thu, thủ tục không trở thành rào cản mở rộng sản xuất và chính sách không khiến doanh nghiệp phải mất quá nhiều thời gian để tìm hiểu mình được hỗ trợ gì.
"Bà đồng nát", mắt xích quan trọng đang đứng ngoài chính sách kinh tế tuần hoàn

"Bà đồng nát", mắt xích quan trọng đang đứng ngoài chính sách kinh tế tuần hoàn

Khi kinh tế tuần hoàn được xem là một mô hình phát triển mới, Việt Nam thực tế đã có một “hệ thống tuần hoàn” vận hành từ nhiều thập niên. Đó chính là mạng lưới thu gom ve chai, đồng nát, đại lý phế liệu và các cơ sở tái chế khắp nơi trong nước.
TP. Hồ Chí Minh hút 17,2 tỷ USD vốn FDI, dòng vốn lớn đang dịch chuyển vào công nghệ

TP. Hồ Chí Minh hút 17,2 tỷ USD vốn FDI, dòng vốn lớn đang dịch chuyển vào công nghệ

Tính đến 19/9, TP. Hồ Chí Minh thu hút 17,225 tỷ USD FDI, vượt xa mục tiêu cả năm. Đáng chú ý, nhiều dự án tỷ USD đang hướng vào cảng biển, trung tâm dữ liệu, AI và công nghệ cao, mở ra dư địa mới nhưng cũng đặt yêu cầu về tiến độ triển khai và liên kết với doanh nghiệp trong nước.