Kế hoạch đặt yêu cầu cụ thể đối với các bộ, ngành, địa phương trong phát triển nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng việc làm, phát triển kỹ năng và kết nối cung - cầu lao động, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới.
![]() |
| Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà |
Theo Kế hoạch, các bộ, cơ quan ngang bộ và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai 5 nhóm nhiệm vụ, giải pháp.
Một là, tạo việc làm bền vững ở đô thị gắn với mô hình tăng trưởng mới, phát triển doanh nghiệp và nâng cao chất lượng sống.
Hai là, tạo việc làm bền vững ở nông thôn gắn với nâng cao giá trị lao động, thúc đẩy chuyển dịch lao động có kỹ năng và bảo đảm sinh kế lâu dài.
Ba là, tạo việc làm bền vững tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, gắn với phát huy nội lực, giảm nghèo bền vững và bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa.
Bốn là, đổi mới đào tạo nguồn nhân lực gắn với xây dựng hệ thống phát triển kỹ năng quốc gia, chuyển từ đáp ứng nhu cầu nhân lực trước mắt sang chuẩn bị năng lực cạnh tranh dài hạn.
Năm là, mở rộng các kênh tạo việc làm, nâng cao kỹ năng người lao động và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Đối với khu vực đô thị, Kế hoạch yêu cầu phát triển mạnh cầu lao động thông qua thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, nhất là khu vực kinh tế tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ, logistics, thương mại điện tử, dịch vụ chất lượng cao, kinh tế số, kinh tế xanh và các ngành có giá trị gia tăng cao.
Việc quy hoạch và tổ chức không gian phát triển phải gắn với mục tiêu tạo việc làm bền vững, phân bổ hợp lý việc làm và nguồn nhân lực.
Chính phủ cũng định hướng ưu tiên thu hút các dự án đầu tư tạo việc làm có năng suất và giá trị gia tăng cao, sử dụng công nghệ tiên tiến, có hoạt động chuyển giao công nghệ và đào tạo người lao động; hạn chế những dự án chủ yếu sử dụng lao động giản đơn, tiêu hao nhiều tài nguyên, năng lượng.
Các địa phương được yêu cầu rà soát, dự báo nhu cầu nhân lực tại khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao, các trung tâm kinh tế, dự án lớn và công trình trọng điểm. Trên cơ sở đó xây dựng phương án đào tạo, kết nối, điều tiết và thu hút lao động, hạn chế nguy cơ thiếu hụt nhân lực ảnh hưởng đến tiến độ các dự án.
Một nội dung đáng chú ý là yêu cầu phát triển mạnh khu vực việc làm chính thức; nghiên cứu, hoàn thiện chính sách hỗ trợ lao động phi chính thức, hộ kinh doanh, cơ sở sản xuất và doanh nghiệp siêu nhỏ chuyển sang hoạt động chính thức. Qua đó, người lao động được giao kết hợp đồng, tham gia bảo hiểm và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp.
Việc tạo việc làm ở đô thị cũng phải đi cùng nâng cao chất lượng sống, cân đối cung - cầu lao động, phát triển nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, nhà ở cho thuê, trường học, cơ sở y tế, giao thông công cộng, thiết chế văn hóa và các dịch vụ thiết yếu tại khu vực tập trung đông người lao động.
![]() |
| Chính phủ đặt trọng tâm nâng chất lượng nguồn nhân lực, mở rộng việc làm bền vững |
Về đổi mới đào tạo nguồn nhân lực, Kế hoạch yêu cầu đổi mới mạnh công tác phân luồng, hướng nghiệp, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học theo hướng ứng dụng, thực hành, gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, thị trường lao động và doanh nghiệp.
Chính phủ định hướng xây dựng, hoàn thiện cơ chế liên thông giữa giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học; nghiên cứu phát triển mô hình trung học nghề phù hợp, đồng thời nâng cao vị thế, thu nhập và cơ hội phát triển nghề nghiệp của lao động kỹ thuật.
Mô hình đào tạo nghề kép, kết hợp đào tạo kiến thức, kỹ năng cơ bản tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp với thực hành, thực tập tại doanh nghiệp cũng được khuyến khích. Doanh nghiệp được tăng cường tham gia xây dựng chương trình, tổ chức đào tạo, cử chuyên gia hướng dẫn, đánh giá kỹ năng và tuyển dụng người học sau đào tạo.
Đặc biệt, đào tạo sẽ từng bước chuyển mạnh sang hướng theo nhu cầu và đặt hàng của doanh nghiệp, bộ, ngành, địa phương. Trong đó, các bộ quản lý ngành xác định nhu cầu nhân lực theo lĩnh vực; địa phương xác định nhu cầu trên cơ sở quy hoạch và không gian phát triển; doanh nghiệp tham gia xây dựng chương trình, tổ chức thực hành, đánh giá kỹ năng và tuyển dụng.
Kế hoạch cũng đặt yêu cầu tăng cường liên kết giữa Nhà nước, cơ sở giáo dục, cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu và doanh nghiệp, trong đó phát huy vai trò trung tâm của doanh nghiệp trong đặt hàng, tổ chức thực hành và đánh giá chất lượng đầu ra.
Một định hướng quan trọng là xây dựng, cập nhật chuẩn kỹ năng nghề quốc gia; đẩy mạnh đánh giá, công nhận kỹ năng nghề, kết quả học tập và kinh nghiệm làm việc. Đồng thời, phát triển hồ sơ kỹ năng của người lao động để có thể tích lũy, cập nhật và chuyển đổi kỹ năng trong suốt quá trình làm việc.
Cùng với đó, Kế hoạch yêu cầu phát triển mạnh đào tạo lại, đào tạo nâng cao và học tập suốt đời; xây dựng cơ chế hỗ trợ người lao động thường xuyên học tập, tích lũy chứng chỉ, tín chỉ kỹ năng, thích ứng với yêu cầu số hóa, xanh hóa, biến đổi khí hậu và quá trình tái cấu trúc việc làm.
Các chương trình đào tạo được định hướng xác định cụ thể theo từng ngành, nghề và trình độ, ưu tiên các lĩnh vực như công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghệ số, bán dẫn, logistics, nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế xanh, dịch vụ hiện đại và các nghề phù hợp với sinh kế tại chỗ.
Đáng chú ý, cơ chế phân bổ nguồn lực cho đào tạo sẽ từng bước được đổi mới theo hướng gắn với kết quả đầu ra, trong đó chú trọng tỷ lệ người học có việc làm, mức thu nhập sau đào tạo, khả năng đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp và hiệu quả sử dụng lao động.
Thông qua Kế hoạch, Chính phủ đặt mục tiêu chuyển mạnh từ tư duy “đào tạo những gì có sẵn” sang “đào tạo theo nhu cầu phát triển”, qua đó nâng chất lượng nguồn nhân lực, mở rộng việc làm bền vững và tạo nền tảng cho năng lực cạnh tranh dài hạn của nền kinh tế.