Tây Ninh đang đặt bài toán nhân lực tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng trong mối liên hệ với năng lực quản lý nhà nước và sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Kế hoạch đến năm 2030 hướng tới chuẩn hóa đội ngũ, phát triển chuyên gia, gắn cơ sở đào tạo với doanh nghiệp và từng bước hình thành hệ sinh thái đào tạo hiện đại trên nền tảng số.
![]() |
| Tây Ninh triển khai kế hoạch phát triển nguồn nhân lực tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng đến năm 2030. |
Kế hoạch được UBND tỉnh ban hành nhằm thực hiện Quyết định 1202/QĐ-TTg ngày 3/7/2026 của Thủ tướng Chính phủ về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng đến năm 2030 và những năm tiếp theo.
Đối tượng đào tạo khá rộng. Bên cạnh công chức thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước, xây dựng chính sách, thanh tra, kiểm tra và thực thi pháp luật, kế hoạch còn hướng đến viên chức, người lao động tại các đơn vị sự nghiệp; giảng viên, người học; chuyên gia, nhà khoa học cùng nhân sự kỹ thuật tại doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh. Đáng chú ý, công chức cấp xã được ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng để thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực này theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đây là yêu cầu gắn trực tiếp với năng lực thực thi ở cơ sở.
![]() |
| Công nhân cơ khí lành nghề, chất lượng cao làm việc tại các KCN tỉnh Tây Ninh. Ảnh: Châu Anh |
Đến năm 2030, tỉnh đặt mục tiêu 100% công chức, viên chức trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng được đào tạo theo khung năng lực và vị trí việc làm. Riêng công chức cấp xã được giao nhiệm vụ phải được tập huấn, cập nhật kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng xử lý tình huống. Cách đặt mục tiêu này cho thấy yêu cầu đào tạo không dừng ở việc bổ sung kiến thức. Năng lực phải gắn với công việc cụ thể và khả năng xử lý những vấn đề phát sinh trong thực tế quản lý.
Một mục tiêu đáng chú ý khác là xây dựng ít nhất 10 chuyên gia, giảng viên và tư vấn viên của tỉnh có khả năng đào tạo, hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, hệ thống quản lý và các công cụ cải tiến năng suất, chất lượng. Nếu đội ngũ quản lý bảo đảm việc thực thi chính sách thì lực lượng chuyên gia có vai trò kết nối kiến thức với hoạt động sản xuất, kinh doanh. Kế hoạch cũng đặt vấn đề hình thành mạng lưới cộng tác viên, chuyên gia trong và ngoài tỉnh để hỗ trợ đào tạo, tư vấn và chuyển giao tri thức.
Với doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh, tỉnh đặt mục tiêu đào tạo ít nhất 100 lượt lãnh đạo, cán bộ quản lý và nhân sự kỹ thuật. Hằng năm tổ chức ít nhất 3 khóa đào tạo về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng. Trên 60% học viên phải đạt yêu cầu đánh giá cuối khóa và vận dụng được kiến thức vào hoạt động sản xuất, kinh doanh. Điểm đáng chú ý là kết quả đào tạo được đặt cùng khả năng vận dụng. Một khóa học chỉ thực sự có giá trị khi kiến thức được đưa vào quy trình quản lý, sản xuất hoặc kiểm soát chất lượng.
Kế hoạch ưu tiên doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh. Nội dung đào tạo tập trung vào việc tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật, áp dụng tiêu chuẩn quốc tế, hệ thống quản lý tiên tiến và công cụ cải tiến năng suất, chất lượng gắn với đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Đối với doanh nghiệp xuất khẩu, nội dung hướng dẫn còn mở rộng sang các yêu cầu kỹ thuật mới liên quan đến Hộ chiếu số sản phẩm, Cơ chế điều chỉnh carbon biên giới và các tiêu chuẩn về môi trường, xã hội, quản trị.
Kế hoạch không tách đào tạo nhân lực khỏi hệ thống giáo dục. Tỉnh định hướng lồng ghép nội dung tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng vào chương trình đào tạo các ngành kỹ thuật, công nghệ, kinh tế và quản trị tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở đào tạo. Mối liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp cũng được đặt ra. Các cơ sở đào tạo được khuyến khích phối hợp với cơ quan quản lý, viện nghiên cứu và doanh nghiệp trong đào tạo, thực tập và phát triển nhân lực theo nhu cầu thực tế. Một điểm đáng lưu ý là yêu cầu tận dụng phòng thử nghiệm, hạ tầng kỹ thuật dùng chung của Trung ương và doanh nghiệp để phục vụ thực hành. Cách làm này giúp hạn chế đầu tư mới khi những điều kiện kỹ thuật hiện có vẫn có thể khai thác.
Phương thức đào tạo được đặt trước yêu cầu chuyển đổi số. Kế hoạch đề cập việc kết hợp trực tiếp và trực tuyến, sử dụng hệ thống quản lý học tập, các khóa học trực tuyến và kho học liệu số dùng chung. AI, công nghệ mô phỏng, phòng thí nghiệm ảo, thực tế ảo và thực tế tăng cường cũng được tính đến trong thiết kế nội dung, giảng dạy, kiểm tra và đào tạo thực hành chuyên sâu. Thực tiễn cho thấy, với lĩnh vực có nhiều yêu cầu kỹ thuật như tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, phương thức đào tạo sẽ quyết định đáng kể khả năng tiếp cận kiến thức của người học. Việc kết hợp nền tảng số với thực hành vì vậy được đặt trong cùng một kế hoạch thay vì xem là những phần việc riêng lẻ.
Kế hoạch cũng hướng tới xây dựng cơ sở dữ liệu về nguồn nhân lực, khảo sát nhu cầu đào tạo tại doanh nghiệp và đánh giá kết quả sau đào tạo. Đây là cơ sở để việc bồi dưỡng nhân lực chuyển dần từ cách làm theo nhu cầu trước mắt sang bám sát vị trí việc làm và nhu cầu phát triển của địa phương.
Nhìn ở góc độ dài hạn, mục tiêu đặt ra không chỉ là có thêm người được đào tạo. Tây Ninh hướng đến một đội ngũ đủ năng lực phục vụ quản lý nhà nước, hỗ trợ doanh nghiệp và góp phần phát triển hạ tầng chất lượng quốc gia. Kế hoạch cũng đặt mục tiêu hình thành đội ngũ chuyên gia có khả năng tư vấn về tiêu chuẩn hóa, đo lường hiện đại, đánh giá sự phù hợp, chuyển đổi số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững.
Để thực hiện, tỉnh dự kiến lồng ghép nhiệm vụ với các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội; kết hợp ngân sách địa phương với nguồn lực xã hội; đồng thời tăng cường phối hợp giữa Sở Khoa học và Công nghệ, các sở, ngành và UBND cấp xã. Điều còn lại là khả năng đưa các mục tiêu thành năng lực thực tế. Khi đào tạo được gắn với vị trí việc làm, nhu cầu doanh nghiệp, nền tảng số và đánh giá sau khóa học, nguồn nhân lực TCĐLCL sẽ có điều kiện trở thành một phần trực tiếp của năng lực quản lý và năng lực cạnh tranh của địa phương.