Chọn trọng tâm tránh dàn trải nguồn lực
Ngành Nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng khi dư địa mở rộng sản lượng và thị trường truyền thống ngày càng thu hẹp. Kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng nhưng biên lợi nhuận không cao, dễ bị tổn thương trước biến động giá, rào cản kỹ thuật và cạnh tranh quốc tế. Trong bối cảnh đó, xuất khẩu hệ sinh thái nông nghiệp được kỳ vọng mở ra không gian tăng trưởng mới, dựa trên giá trị tri thức, công nghệ và dịch vụ.
Tại cuộc họp xây dựng đề án xuất khẩu hệ sinh thái nông nghiệp giai đoạn 2026–2030, tầm nhìn 2045, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung nhấn mạnh, cách tiếp cận không nên “ôm đồm” hay xây dựng một chương trình quá lớn ngay từ đầu. Theo ông, điều quan trọng nhất là lựa chọn các lĩnh vực nông, lâm, thủy sản có lợi thế rõ ràng, đủ điều kiện hình thành hệ sinh thái hoàn chỉnh và có thể triển khai thực chất trên thị trường quốc tế.
“Phải bắt đầu từ những nhóm mặt hàng làm gọn, làm thật, tránh dàn trải nguồn lực”, Thứ trưởng Hoàng Trung lưu ý. Việc tập trung vào trọng tâm không chỉ giúp giảm rủi ro, mà còn tạo điều kiện hình thành các mô hình mẫu có thể nhân rộng, tạo niềm tin cho doanh nghiệp và đối tác quốc tế.
![]() |
| Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung. |
Một yêu cầu mang tính “xương sống” của đề án, theo Thứ trưởng, là lượng hóa mục tiêu. Ông cho rằng đề án cần trả lời được câu hỏi cụ thể: mỗi hệ sinh thái đóng góp bao nhiêu điểm phần trăm vào kim ngạch xuất khẩu, tạo ra bao nhiêu dự án, bao nhiêu dòng vốn và bao nhiêu việc làm. “Nếu không đo đếm được hiệu quả, rất khó đánh giá thành công hay thất bại”, ông nhấn mạnh.
Cùng với đó, Thứ trưởng Hoàng Trung yêu cầu làm rõ bản chất của khái niệm “xuất khẩu hệ sinh thái”. Đây không chỉ là xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp, mà là tổng thể giải pháp gồm giống, công nghệ, thiết bị, quy trình sản xuất – chế biến, hệ thống kiểm soát chất lượng và đội ngũ chuyên gia có khả năng hỗ trợ trực tiếp tại thị trường nước ngoài. Mỗi hệ sinh thái, theo ông, phải trả lời đầy đủ ba câu hỏi cốt lõi: bán cái gì, bán cho ai và bằng cách nào.
Việc xác định thị trường mục tiêu được đặt ngang hàng với lựa chọn sản phẩm và công nghệ. Thứ trưởng cho rằng dự thảo đề án phải chỉ rõ từng quốc gia, khu vực có nhu cầu thực sự, phù hợp với lợi thế cạnh tranh của Việt Nam, thay vì tiếp cận dàn trải. Đồng thời, đề án cần có lộ trình hành động cụ thể, mốc thời gian rõ ràng và phân công trách nhiệm minh bạch để bảo đảm khả năng triển khai.
Tạo lợi thế cạnh tranh dài hạn bền vững
Theo đánh giá của các chuyên gia và cơ quan quản lý, nhiều quốc gia đã đi trước trong xuất khẩu hệ sinh thái nông nghiệp, không chỉ bán sản phẩm mà bán trọn gói giải pháp và năng lực tổ chức sản xuất. Mô hình này tạo ra rào cản cạnh tranh, duy trì quan hệ hợp tác lâu dài và nâng cao vị thế quốc gia trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Việt Nam đã hình thành nền tảng hệ sinh thái nông nghiệp khá đầy đủ trong nước, từ sản xuất, chế biến, logistics đến nghiên cứu giống và chuyển đổi số. Một số thị trường đã có sự hiện diện của doanh nghiệp và chuyên gia Việt Nam, tạo tiền đề để mở rộng mô hình xuất khẩu theo hướng hệ sinh thái, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển có nhu cầu cao về giải pháp canh tác, đào tạo nhân lực và quản trị chuỗi giá trị.
![]() |
| Xuất khẩu phải có giải pháp để phát triển bền vững. |
Thứ trưởng Hoàng Trung cho rằng xuất khẩu hệ sinh thái không chỉ nhằm tăng kim ngạch, mà quan trọng hơn là tái định vị vai trò của nông nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế. Từ chỗ chủ yếu cung cấp nguyên liệu và sản phẩm sơ chế, Việt Nam cần từng bước chuyển sang cung cấp giải pháp tổng thể, gia tăng hàm lượng công nghệ và tri thức trong mỗi dự án hợp tác.
Để đạt mục tiêu này, ngoại giao nông nghiệp được xác định là một trụ cột quan trọng. Việc lồng ghép xuất khẩu hệ sinh thái vào các chương trình nghị sự đối ngoại, xây dựng đề án riêng cho từng thị trường và tăng cường mạng lưới tham tán nông nghiệp giúp mở rộng kênh tiếp cận, hỗ trợ doanh nghiệp và chuyên gia trong quá trình triển khai.
Một hướng đi chiến lược khác là thúc đẩy hình thành các tập đoàn nông nghiệp đa quốc gia của Việt Nam, đủ năng lực tích hợp sản xuất, chế biến, dịch vụ và đầu tư tại nhiều quốc gia. Những “đầu tàu” này sẽ dẫn dắt doanh nghiệp vừa và nhỏ, hợp tác xã và đội ngũ chuyên gia tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, tạo hiệu ứng lan tỏa cho toàn ngành.
“Xuất khẩu hệ sinh thái nông nghiệp là yêu cầu tất yếu để mở rộng không gian tăng trưởng”, Thứ trưởng Hoàng Trung nhấn mạnh. Theo ông, chỉ khi mục tiêu được lượng hóa, trọng tâm được xác định rõ và hành động được triển khai quyết liệt, đề án mới thực sự tạo ra chuyển biến, giúp nông nghiệp Việt Nam bước sang giai đoạn phát triển dựa trên giá trị, năng lực cạnh tranh và tính bền vững dài hạn.