| TS. Cấn Văn Lực: Chuyển đổi số và tài chính xanh định hình tương lai thị trường Việt Chủ tịch Quốc hội yêu cầu tháo gỡ điểm nghẽn huy động nguồn lực tài chính đất đai |
Đến cuối năm 2025, lượng vốn tín dụng xanh đạt khoảng 780 nghìn tỷ đồng, tăng hơn 134% so với mức 333.098 tỷ đồng vào cuối năm 2020. Đây không chỉ là con số tăng trưởng về quy mô, mà còn phản ánh quá trình chuyển đổi mạnh mẽ của ngành ngân hàng – từ vai trò “kênh dẫn vốn” truyền thống sang vị thế trung tâm thúc đẩy phát triển bền vững.
Quá trình này được đặt nền móng từ khá sớm. Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg về định hướng phát triển bền vững đã mở đường cho việc lồng ghép yếu tố môi trường vào chính sách kinh tế. Đến thập niên 2010, khi xu hướng tăng trưởng xanh lan rộng toàn cầu, Việt Nam cũng xác định rõ vai trò của ngành ngân hàng như một trụ cột trong tiến trình chuyển đổi.
Ngày 20/3/2013, Quyết định số 403/QĐ-TTg về Kế hoạch hành động quốc gia tăng trưởng xanh giai đoạn 2014–2020 tiếp tục tạo cú hích chính sách. Sau đó, Ngân hàng Nhà nước ban hành Chỉ thị 03/CT-NHNN năm 2015, định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực thân thiện môi trường.
Theo bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, ngành ngân hàng đã tham gia chuyển đổi xanh từ khá sớm. Các quyết định như 1604/QĐ-NHNN về phát triển ngân hàng xanh hay 986/QĐ-TTg về chiến lược ngành ngân hàng đến năm 2030 đã góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý, định hướng tín dụng vào các lĩnh vực ít phát thải.
Dưới định hướng này, dòng vốn tín dụng đang được “tái định vị” vào các ngành như năng lượng tái tạo, nông nghiệp sạch, tiết kiệm năng lượng và kinh tế tuần hoàn. Các chương trình tín dụng ưu đãi, linh hoạt tài sản bảo đảm và chia sẻ rủi ro giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn thuận lợi hơn.
![]() |
| Tài chính xanh tăng trưởng, ngân hàng dẫn dắt nền kinh tế bền vững (Ảnh: Minh họa) |
Điển hình là chương trình phát triển 1 triệu ha lúa phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long, với lãi suất thấp hơn khoảng 1% so với thông thường. Chính sách này không chỉ giảm chi phí sản xuất mà còn thúc đẩy mô hình canh tác thân thiện môi trường.
Ở cấp độ ngân hàng thương mại, xu hướng tín dụng xanh ngày càng rõ nét. HDBank triển khai gói 10.000 tỷ đồng cho nông nghiệp công nghệ cao; Nam A Bank hợp tác quốc tế cung cấp các khoản vay lãi suất 5–6%/năm; BIDV dừng tài trợ nhiệt điện than từ năm 2018 và đẩy mạnh năng lượng tái tạo.
Song song đó, các chương trình hợp tác quốc tế với Ngân hàng Thế giới, IFC, JBIC hay Chính phủ Đan Mạch đã mở rộng nguồn lực tài chính xanh, góp phần đa dạng hóa kênh vốn cho nền kinh tế.
Sau gần 10 năm triển khai, số tổ chức tín dụng tham gia cho vay xanh tăng từ 15 lên 78, dư nợ đạt gần 780 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 4,19% tổng dư nợ. Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 22–23% mỗi năm, tập trung vào nông nghiệp xanh (33%) và năng lượng tái tạo (22%).
Dù đạt nhiều kết quả tích cực, quá trình chuyển đổi xanh đang đối mặt với áp lực lớn. PGS.TS. Nguyễn Đình Thọ cho biết nền kinh tế Việt Nam đang thâm hụt khoảng 220% năng lực hệ sinh thái, phản ánh tình trạng khai thác tài nguyên vượt xa khả năng tái tạo.
Bên cạnh đó, các rào cản thương mại xanh như cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM), quy định chống phá rừng và tiêu chuẩn môi trường khắt khe từ các thị trường lớn đang tạo áp lực trực tiếp lên xuất khẩu.
Không chỉ vậy, biến động địa chính trị cũng làm gia tăng rủi ro. Ông Nguyễn Xuân Hải nhận định xung đột Trung Đông đầu năm 2026 đã đẩy giá nhiên liệu tăng cao, gây sức ép lên lạm phát và chi phí sản xuất toàn cầu.
Những yếu tố này cho thấy chuyển đổi xanh không còn là lựa chọn dài hạn, mà trở thành yêu cầu cấp bách. Việc tiết kiệm năng lượng, giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và tối ưu chi phí đang trở thành điều kiện sống còn với doanh nghiệp.
Nghị quyết số 70-NQ/TW năm 2025 về an ninh năng lượng quốc gia tiếp tục khẳng định tầm quan trọng của chuyển đổi xanh. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp thay đổi mô hình sản xuất, hướng tới tiết kiệm năng lượng và phát triển bền vững.
Ở góc độ dài hạn, kịch bản chuyển đổi xanh được đánh giá có thể giúp GDP tăng trưởng trên 10%/năm giai đoạn 2026–2030 và duy trì mức 7–8,1% trong các thập kỷ tiếp theo. Đây là cơ hội lớn để Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Tuy nhiên, để dòng vốn xanh phát huy hiệu quả, cần sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và tiền tệ. Theo TS. Phạm Phan Dũng, ngân hàng không thể đơn phương giảm lãi suất mà cần có hỗ trợ từ ngân sách nhà nước.
Một trong những giải pháp được đề xuất là thành lập quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, huy động vốn từ ngân sách và tổ chức quốc tế, sau đó ủy thác qua hệ thống ngân hàng để giải ngân.
Trong bối cảnh đó, vai trò của ngân hàng ngày càng được nâng tầm. Không chỉ là “mạch máu” của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng đang trở thành “trái tim” dẫn dắt dòng vốn, định hình cấu trúc tăng trưởng mới.
Việc lồng ghép các tiêu chí môi trường – xã hội – quản trị (ESG) vào hoạt động tín dụng sẽ trở thành chuẩn mực tất yếu. Đây không chỉ là yêu cầu hội nhập, mà còn là chìa khóa để nâng cao chất lượng tăng trưởng.
Trong hành trình hướng tới kỷ nguyên phát triển mới, tài chính xanh không chỉ là xu hướng mà đã trở thành trách nhiệm. Và trong dòng chảy đó, mỗi quyết định tín dụng hôm nay sẽ góp phần định hình tương lai của nền kinh tế ngày mai.