Theo nội dung đơn, ngày 31/3/2026, chi nhánh cơ sở sản xuất của bà tại địa chỉ 18/23 Huỳnh Văn Nghệ, phường Tân Sơn nhận được Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 06/QĐ-XPHC của UBND phường Tân Sơn với tổng số tiền 552 triệu đồng. Đối với một cơ sở sản xuất thủ công diện tích khoảng 70m2, sử dụng 6 lao động, bà Bình cho rằng đây là mức xử phạt quá sức chịu đựng.
![]() |
| Bà Nguyễn Thị Bính - Giám đốc Công ty Cổ phần Sản xuất Thương mại Dịch vụ Nguyễn Bính, đề nghị xem xét lại quyết định xử phạt vi phạm hành chính 552 triệu đồng. |
Trọng tâm khiếu nại của bà Bính nằm ở cách xác định lưu lượng xả thải. Cơ quan chức năng xác định lưu lượng xả thải của cơ sở là 10m3/ngày. Tuy nhiên, bà Bình khẳng định tính tống các hóa đơn nước quý IV/2025 tại cơ sở của bà thì tổng lượng nước tiêu thụ là 488m3 (trong 92 ngày), tương đương khoảng 5,3m3/ngày, đã gồm cả nước dùng cho sinh hoạt. Nếu tính lượng xả thải bằng 80% lượng nước cấp, lưu lượng xả thải thực tế chỉ khoảng 4,24m3/ngày. Căn cứ theo đó, bà Bình cho rằng việc áp ngưỡng 10m3/ngày để tính mức phạt là không đúng với thực tế, điều này khiến số tiền xử phạt tăng vọt.
Khi hai bộ số liệu chênh nhau lớn như vậy, lẽ ra người ban hành quyết định xử phạt phải làm rõ phương pháp xác định, nguồn chứng cứ, cách quy đổi và vì sao bác bỏ số liệu do cơ sở bị xử phạt cung cấp. Nếu không làm rõ được, quyết định số 06/QĐ-XPHC của UBND phường Tân Sơn rõ ràng chưa bảo đảm tính khách quan, toàn diện.
Bà Bính kiến nghị UBND TP. Hồ Chí Minh rà soát lại quy trình đo đạc, đối chiếu số liệu thực tế từ hóa đơn nước để điều chỉnh mức xử phạt phù hợp. Đồng thời, bà đề nghị được giãn thời gian nộp phạt hoặc xem xét giảm nhẹ để duy trì sản xuất, giữ việc làm cho người lao động.
Bà Bính cũng cho biết mẫu nước được lấy đúng thời điểm cơ sở xảy ra sự cố tràn bột ra cống. Theo trình bày trong đơn, đây là sự cố ngoài ý muốn, đã được khắc phục ngay sau đó, đồng thời cơ sở cũng đề nghị được quan trắc lại để có kết quả khách quan hơn nhưng chưa được xem xét thấu đáo. Như vậy, vấn đề đặt ra là liệu một mẫu quan trắc được lấy đúng thời điểm xảy ra sự cố cá biệt có đủ để phản ánh bản chất vận hành thường xuyên của một cơ sở sản xuất này hay không. Trong hoạt động quản lý môi trường, yêu cầu tuân thủ pháp luật là bắt buộc, nhưng tính hợp lý của việc áp dụng chế tài cũng cần đặt trên nền tảng dữ liệu sát thực tế, đặc biệt khi mức xử phạt có thể quyết định sự sống còn của cả một cơ sở sản xuất.
![]() |
| Cần xem xét lại mức độ vi phạm quy định về thẩm quyền xử phạt tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính Số 06/QĐ-XPHC do Chủ tịch UBND phường Tân Sơn ký, ban hành ngày 31/3/2026. |
Trong vụ việc này, một điểm rất đáng chú ý là vấn đề thẩm quyền xử phạt. Điều 56 Nghị định 45/2022/NĐ-CP quy định thẩm quyền xử phạt trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, cụ thể như sau: Chủ tịch UBND cấp xã chỉ có thẩm quyền phạt tiền đến 5 triệu đồng; cấp huyện đến 100 triệu đồng; cấp tỉnh mới có quyền phạt đến 1 tỷ đồng. Đối chiếu với quy định này, rõ ràng Quyết định xử phạt vi phạm hành chính Số 06/QĐ-XPHC do Chủ tịch UBND phường ký, ban hành ngày 31/3/2026 đã vi phạm nghiêm trọng về thẩm quyền xử phạt.
Bên cạnh đó, thủ tục giải trình cũng có dấu hiệu không được bảo đảm đầy đủ. Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định: với hành vi mà mức phạt tối đa của khung từ 30 triệu đồng trở lên đối với tổ chức vi phạm có quyền giải trình trực tiếp hoặc bằng văn bản. Quyền giải trình của doanh nghiệp phải được bảo đảm đầy đủ trước khi ra quyết định xử phạt. Ngay trong biên bản vi phạm, cơ quan chức năng cũng phải ghi rõ doanh nghiệp có quyền giải trình trong thời hạn nào, gửi đến đâu và ai là người tiếp nhận, đây không phải là thủ tục hình thức mà là bước bắt buộc để bảo đảm quyết định cuối cùng được ban hành trên cơ sở đã nghe đầy đủ ý kiến từ bên bị xử phạt. Tuy nhiên, theo phản ánh của bà Bính thì phía UBND phường Tân Sơn đã không xem xét thấu đáo giải trình của bà mà vẫn quyết liệt ban hành quyết định xử phạt.
Bà Bính cho rằng cần nhìn nhận đầy đủ điều kiện hoạt động thực tế của các cơ sở nghề truyền thống quy mô nhỏ. Với mặt bằng chật hẹp, nằm xen trong khu dân cư, cơ sở gần như không đủ khả năng đầu tư hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn công nghiệp ngay tại chỗ. Nếu áp chế tài quá lớn mà không xét đến điều kiện vận hành cụ thể, nhiều cơ sở truyền thống có thể bị đẩy vào thế không thể tiếp tục sản xuất.
Ngoài việc xem xét lại cụ thể các diễn tiến, các thông số, sự việc cũng đặt ra bài toán rộng hơn về cơ chế hỗ trợ các cơ sở thực phẩm truyền thống trong đô thị. Theo kiến nghị của bà Bình, TP. Hồ Chí Minh cần tính đến phương án quy hoạch cụm làng nghề thực phẩm truyền thống tại khu vực ven đô hoặc ngoại thành, có hạ tầng xử lý nước thải dùng chung, đồng thời có chính sách tín dụng ưu đãi để các cơ sở nhỏ có điều kiện di dời, nâng cấp công nghệ và đầu tư hệ thống xử lý môi trường.
Vụ việc cho thấy yêu cầu bảo vệ môi trường là cần thiết, nhưng việc áp dụng chế tài cũng cần bảo đảm tính hợp lý, tương xứng với quy mô và điều kiện hoạt động thực tế. Khi mức phạt vượt quá sức chịu đựng của một cơ sở thủ công nhỏ, câu chuyện không chỉ dừng ở xử lý vi phạm, mà còn chạm đến bài toán giữ sinh kế và không để một nghề truyền thống bị đẩy vào đường cùng.