| PGS. TS Nguyễn Thường Lạng: Cần giúp doanh nghiệp lấy lại năng lực cạnh tranh |
Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu đầy tham vọng là đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hai con số trong giai đoạn 2026-2030, yêu cầu về một mô hình tăng trưởng mới trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Theo PGS. TS Nguyễn Thường Lạng, Giảng viên cao cấp, Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế, Đại học Kinh tế quốc dân, động lực cốt lõi của tăng trưởng cao không chỉ đến từ việc gia tăng quy mô vốn mà còn nằm ở khả năng nâng cao năng suất tổng hợp các yếu tố, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng khoa học công nghệ.
PGS. TS Nguyễn Thường Lạng nhìn nhận, kinh nghiệm từ các nền kinh tế phát triển nhanh như Hàn Quốc, Nhật Bản hay Trung Quốc cho thấy, tăng trưởng cao liên tục chỉ có thể đạt được khi đi kèm với sự chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Trong đó, chính sách tài khóa và tiền tệ đóng vai trò như hai trụ cột quan trọng, vừa dẫn dắt vừa điều tiết quá trình phân bổ nguồn lực.
Ông cho hay, chính sách tài khóa, thông qua công cụ thuế, phí và chi tiêu công, có vai trò huy động nguồn lực tài chính và phân bổ cho các lĩnh vực ưu tiên. Tuy nhiên, việc điều hành chính sách này cần thận trọng. Nếu thắt chặt quá mức, đặc biệt là cắt giảm chi tiêu công đột ngột, có thể làm suy giảm tăng trưởng. Ngược lại, nới lỏng quá mức mà thiếu hiệu quả đầu tư sẽ dẫn đến lãng phí nguồn lực và gia tăng áp lực lạm phát.
Trong khi đó, chính sách tiền tệ điều tiết cung tiền, lãi suất và tín dụng, tác động trực tiếp đến khả năng tiếp cận vốn của nền kinh tế. Sự phối hợp thiếu đồng bộ giữa hai chính sách này có thể làm triệt tiêu dư địa điều hành, thậm chí gây mất ổn định vĩ mô.
![]() |
| PGS. TS Nguyễn Thường Lạng, Giảng viên cao cấp, Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế, Đại học Kinh tế quốc dân. |
Theo phân tích của PGS. TS Nguyễn Thường Lạng, có bốn kịch bản phối hợp chính sách gồm: tiền tệ lỏng – tài khóa chặt; tiền tệ lỏng – tài khóa lỏng; tiền tệ chặt – tài khóa lỏng; và tiền tệ chặt – tài khóa chặt. Mỗi kịch bản phù hợp với từng giai đoạn phát triển khác nhau, song mục tiêu cuối cùng vẫn là nâng cao năng suất, cải thiện sức cạnh tranh và thúc đẩy chuyển đổi số.
Đặc biệt, trong điều kiện nền kinh tế có độ mở cao, dòng vốn quốc tế dịch chuyển nhanh, việc phối hợp chính sách cần tính đến yếu tố bên ngoài nhằm tận dụng cơ hội và giảm thiểu rủi ro từ biến động toàn cầu.
PGS. TS Nguyễn Thường Lạng cho rằng, giai đoạn 2000-2025, tăng trưởng GDP bình quân của Việt Nam đạt khoảng 6,5% mỗi năm. Tuy nhiên, mức tăng trưởng này tiềm ẩn nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình nếu không có sự đột phá. Do đó, mục tiêu nâng tốc độ tăng trưởng lên khoảng 10% trong giai đoạn tới đòi hỏi những thay đổi mạnh mẽ trong điều hành chính sách.
Vị chuyên gia này quả quyết, một trong những giải pháp quan trọng là mở rộng chính sách tài khóa theo hướng tăng chi đầu tư phát triển, đặc biệt là đầu tư công. Dự kiến năm 2026, tổng vốn đầu tư công có thể đạt mức kỷ lục khoảng 1 triệu tỷ đồng, tập trung vào các dự án hạ tầng quy mô lớn như cao tốc, đường sắt tốc độ cao, sân bay, cảng biển và hạ tầng số.
Những dự án này không chỉ tạo động lực tăng trưởng trực tiếp mà còn có tác động lan tỏa, kích thích đầu tư tư nhân và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Đồng thời, việc tăng chi cho nghiên cứu và phát triển lên khoảng 2% GDP sẽ góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
Bên cạnh đó, các chính sách hỗ trợ như miễn giảm thuế, ưu đãi tiền thuê đất, phát triển nhà ở xã hội và cải cách tiền lương sẽ góp phần kích thích tổng cầu, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển.
Ông cũng cho rằng, về phía chính sách tiền tệ, định hướng điều hành trong giai đoạn tới là linh hoạt nhưng thận trọng. Tăng trưởng cung tiền M2 dự kiến duy trì ở mức khoảng 13% mỗi năm, thấp hơn giai đoạn trước nhằm kiểm soát lạm phát. Tăng trưởng tín dụng được định hướng ở mức khoảng 15% năm 2026, giảm dần sự phụ thuộc của nền kinh tế vào vốn ngân hàng.
Đáng chú ý, PGS. TS Nguyễn Thường Lạng nhận định, hệ số tín dụng/GDP hiện ở mức cao, khoảng 146%, cho thấy áp lực lớn lên hệ thống tài chính. Điều này đòi hỏi cần đa dạng hóa các kênh huy động vốn, bao gồm thị trường chứng khoán, trái phiếu và các nguồn vốn quốc tế.
"Trong ngắn hạn, ưu tiên đặt ra là nâng cao hiệu quả chi tiêu công, đẩy nhanh giải ngân đầu tư và tăng cường kỷ luật tài khóa. Trong trung hạn, cần tái cơ cấu chi ngân sách theo hướng tăng tỷ trọng đầu tư phát triển và hoàn thiện hệ thống thuế. Về dài hạn, chiến lược tập trung vào phát triển các ngành công nghệ cao như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và nông nghiệp công nghệ cao", PGS. TS Nguyễn Thường Lạng chia sẻ.
Song song với đó PGS. TS Nguyễn Thường Lạng cho biết, việc xây dựng cơ chế cảnh báo và giám sát chính sách hiệu quả là yếu tố không thể thiếu. Điều này bao gồm việc dự báo các rủi ro từ môi trường quốc tế, xây dựng các kịch bản điều hành linh hoạt và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan như Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước và Bộ Công Thương.
Trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ, việc ứng dụng công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo, vào công tác giám sát và điều hành chính sách sẽ giúp nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và khả năng phản ứng nhanh trước các biến động.
"Có thể thấy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững, Việt Nam cần một chiến lược phối hợp chính sách tài khóa và tiền tệ đồng bộ, linh hoạt và hướng tới dài hạn. Đây không chỉ là yêu cầu về kỹ thuật điều hành mà còn là yếu tố quyết định trong hành trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng và nâng tầm nền kinh tế", PGS. TS Nguyễn Thường Lạng nói.