![]() |
| Những ưu đãi giúp doanh nghiệp nhỏ tăng sức bật |
Ưu đãi thuế và bảo lãnh tín dụng: thêm thời gian cho doanh nghiệp nhỏ
Một trong những chính sách hỗ trợ lớn nhất hiện nay dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa là miễn, giảm thuế. Theo quy định mới, doanh nghiệp nhỏ và vừa đăng ký kinh doanh lần đầu được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm kể từ khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu. Thời gian miễn thuế được tính liên tục từ năm đầu tiên được cấp giấy chứng nhận.
Đối với các doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận trước thời điểm Nghị quyết 198/2025/QH15 có hiệu lực (ngày 17/5/2025) và vẫn còn thời gian hưởng ưu đãi, chính sách miễn thuế sẽ tiếp tục được áp dụng cho thời gian còn lại theo quy định mới.
PGS-TS Trần Hoàng Ngân, đại biểu Quốc hội, đánh giá việc Chính phủ ban hành Nghị định 20/2026 thể hiện rõ quyết tâm đưa chủ trương phát triển kinh tế tư nhân theo Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị và Nghị quyết 198 của Quốc hội đi vào thực tiễn đời sống.
Theo ông, trong nhóm chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, miễn và giảm thuế là giải pháp thiết thực, đặc biệt khi được triển khai song hành với chính sách hỗ trợ tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất – kinh doanh. “Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm đầu tiên có ý nghĩa sống còn với các doanh nghiệp mới ra đời, giúp họ có thêm dư địa tài chính để tồn tại và lớn lên”, ông Ngân nhận định.
Bên cạnh đó, việc ưu tiên cho thuê nhà, đất và giảm giá thuê đối với doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo được kỳ vọng tạo ra môi trường làm việc ổn định, lâu dài. Trong bối cảnh Nhà nước khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi, phát triển lên doanh nghiệp, các chính sách hỗ trợ cụ thể sẽ giúp người dân mạnh dạn, tự tin hơn khi bước vào khu vực kinh tế chính thức.
Theo chuyên gia kinh tế Trần Anh Tùng, Trường Đại học Kinh tế – Tài chính TP.HCM, doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện chiếm gần như toàn bộ số lượng doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam. Khu vực này tạo việc làm cho hơn một nửa lực lượng lao động xã hội và đóng góp khoảng 40% GDP.
Tuy nhiên, nghịch lý nằm ở chỗ quy mô đông nhưng sức bật yếu. Phần lớn doanh nghiệp nhỏ vận hành dựa vào vốn tự có, biên lợi nhuận mỏng, năng lực quản trị và công nghệ còn hạn chế. Vì vậy, khu vực này thường được ví như những “chim non”, rất dễ tổn thương trước các cú sốc vĩ mô, biến động lãi suất và cầu thị trường.
Trong bối cảnh đó, các chính sách hỗ trợ mới, đặc biệt là giảm thuế, giãn nghĩa vụ tài chính và mở rộng bảo lãnh tín dụng, về bản chất đã giúp doanh nghiệp “mua thêm thời gian”. Đây là yếu tố quan trọng để kéo dài vòng đời tồn tại, duy trì dòng tiền và tránh bị loại khỏi thị trường khi cơ hội phục hồi chưa kịp đến.
Theo ông Trần Anh Tùng, nếu một doanh nghiệp sản xuất nhỏ được giảm thuế và tiếp cận khoản vay có bảo lãnh trong thời gian 12–24 tháng, họ có thể giữ lại dòng tiền để tái cơ cấu sản phẩm, đầu tư công nghệ cơ bản và chờ chu kỳ cầu hồi phục.
Với các doanh nghiệp may mặc, gỗ hoặc sản xuất bao bì quy mô 50–100 lao động, biên lợi nhuận ròng chỉ khoảng 3–5%. Trong điều kiện đó, việc được miễn hoặc giảm nghĩa vụ thuế theo lộ trình, đồng thời tiếp cận nguồn tín dụng có bảo lãnh trong 12–24 tháng, có thể giúp doanh nghiệp chuyển từ trạng thái “cầm cự” sang “tái cơ cấu”.
Đơn cử, một xưởng gỗ xuất khẩu tại TP.HCM có doanh thu 5–10 tỷ đồng mỗi tháng thường gặp khó do khách hàng thanh toán chậm 60–90 ngày. Nếu được tiếp cận khoản tín dụng bảo lãnh 5–10 tỷ đồng, doanh nghiệp có thể chủ động mua nguyên liệu đúng mùa với giá tốt, duy trì nhịp sản xuất và đầu tư tối thiểu cho máy cắt CNC, phần mềm quản lý đơn hàng. Chỉ cần giảm hao hụt 1–2% cũng đủ bù lãi vay và nâng sức cạnh tranh khi đơn hàng quay trở lại.
Trong lĩnh vực nông nghiệp – chế biến như cà phê, điều, trái cây, chính sách bảo lãnh tín dụng càng mang ý nghĩa then chốt. Doanh nghiệp nhỏ trong ngành này thường “chết” ở khâu thu mua theo mùa, khi nhu cầu vốn lớn trong thời gian ngắn. Bảo lãnh tín dụng giúp họ gom hàng đúng vụ, đầu tư chuẩn hóa sơ chế – đóng gói để thâm nhập kênh phân phối hiện đại, tránh tình trạng bán tháo.
Từ “cấp cứu” sang “nâng thể lực”
Dù đánh giá cao tác dụng tức thời của các chính sách hỗ trợ tài chính, chuyên gia Trần Anh Tùng cho rằng nếu chỉ dừng ở hỗ trợ ngắn hạn là chưa đủ. Vấn đề cốt lõi hiện nay là khả năng hấp thụ chính sách của doanh nghiệp còn yếu. Vì vậy, hỗ trợ cần chuyển từ tư duy “cấp cứu” sang “nâng thể lực”, kết hợp giữa vốn, đơn giản hóa thủ tục và nâng cao năng lực quản trị.
“Nghị quyết 68, được cụ thể hóa bằng Nghị quyết 198 và các văn bản hướng dẫn, đã tương đối đầy đủ và trúng những điểm nghẽn lớn nhất của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nhưng nếu triển khai theo tư duy hành chính cũ, chính sách vẫn có mà doanh nghiệp khó tiếp cận vì thủ tục chậm, phân tán, mỗi nơi hiểu một cách”, ông Tùng nhận định.
Theo ông, bài toán hiện nay là tăng tốc thực thi, xác định rõ đầu mối, thời gian và trách nhiệm. Hiệu quả chính sách cần được đo bằng sức lớn lên của doanh nghiệp, thay vì số lượng văn bản ban hành. Khi triển khai đủ nhanh, đủ quyết liệt và nhất quán, các nghị quyết hoàn toàn có thể trở thành bệ phóng để “đàn chim non” cất cánh cùng những doanh nghiệp lớn.
PGS-TS Trần Hoàng Ngân cho rằng Nghị quyết 198 đã nêu khá chi tiết các chính sách hỗ trợ và nếu được các bộ, ngành thực hiện đầy đủ, khu vực kinh tế tư nhân nói chung, doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng sẽ có thêm không gian phát triển.
Tuy nhiên, khả năng tiếp cận vốn vẫn là điểm nghẽn kéo dài. Trước đây, mô hình Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa đã mang lại một số kết quả tích cực, giúp nhiều doanh nghiệp tiếp cận được vốn ngân hàng và phục hồi sản xuất. Dù vậy, quy mô tổ chức của các quỹ địa phương còn nhỏ, khiến hiệu quả chưa cao và số lượng doanh nghiệp được hỗ trợ còn hạn chế.
Vì vậy, theo ông Ngân, Chính phủ cần xem xét củng cố và nâng cấp mô hình quỹ bảo lãnh tín dụng, nhằm thúc đẩy hoạt động mạnh mẽ hơn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận nguồn vốn chính thức nhanh hơn, với chi phí thấp hơn – qua đó nâng sức chống chịu và khả năng vươn lên trong giai đoạn phát triển mới.