| Ngày 14-4, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đến Bắc Kinh, bắt đầu chuyến thăm cấp nhà nước từ ngày 14 đến 17-4 theo lời mời của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình và Phu nhân. Trong khuôn khổ chuyến thăm, ngày 14-4 Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có cuộc hội kiến Chủ tịch Chính hiệp toàn quốc Trung Quốc Vương Hộ Ninh. Tại cuộc gặp, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khẳng định Việt Nam mong muốn thông qua chuyến thăm lần này tiếp tục làm sâu sắc hơn nữa tin cậy chính trị, xác lập tầm cao mới của hợp tác song phương với kết nối toàn diện, sâu rộng hơn, cùng nhau hiện thực hóa mục tiêu phát triển của mỗi nước. Để thực hiện mục tiêu trên, ông mong muốn hai bên thúc đẩy 3 kết nối về lý tưởng niềm tin, lợi ích phát triển và văn hóa, lòng dân. Cũng trong ngày 14-4, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đến khảo sát Khu mới Hùng An - một dự án quan trọng, có ý nghĩa lịch sử của Trung Quốc; phát biểu chính sách tại Đại học Thanh Hoa và thăm, gặp gỡ cán bộ nhân viên Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc và đại diện kiều bào. |
![]() |
| Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hội kiến Chủ tịch Chính hiệp toàn quốc Trung Quốc Vương Hộ Ninh - Ảnh: TTXVN |
Quan hệ kinh tế, thương mại Việt Nam - Trung Quốc đang bước vào giai đoạn tăng trưởng mới với quy mô ngày càng lớn. Năm 2025, tổng kim ngạch thương mại hai chiều đạt 256,4 tỷ USD, tăng 24,8% so với năm trước. Trong đó, xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc đạt 70,4 tỷ USD, tăng 14,8%, còn nhập khẩu từ thị trường này lên tới 186 tỷ USD, tăng 29%.
Con số này không chỉ xác lập kỷ lục mới cho thương mại song phương, mà còn cho thấy tốc độ mở rộng rất nhanh của quan hệ trao đổi hàng hóa giữa hai nền kinh tế. Trước đó, năm 2024, kim ngạch hai chiều lần đầu vượt ngưỡng 200 tỷ USD, đạt 205,2 tỷ USD. Chỉ sau một năm, quy mô thương mại đã tăng thêm hơn 50 tỷ USD, phản ánh nhu cầu thị trường lớn và mức độ liên kết ngày càng sâu giữa chuỗi sản xuất, cung ứng của hai nước.
Hiện Trung Quốc tiếp tục là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, trong khi Việt Nam giữ vị thế là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong ASEAN. Theo tiêu chí quốc gia, Việt Nam cũng đã trở thành đối tác thương mại lớn thứ tư của Trung Quốc trên thế giới, chỉ sau Mỹ, Hàn Quốc và Nhật Bản. Đây là bước tiến đáng chú ý, cho thấy vai trò ngày càng rõ nét của Việt Nam trong chuỗi cung ứng khu vực.
![]() |
| Thương mại Việt Trung giai đoạn 2021-2025 |
Đà tăng trưởng thương mại Việt - Trung không chỉ đến từ yếu tố quy mô, mà còn dựa trên sự bổ trợ ngày càng rõ giữa hai nền kinh tế. Ở chiều nhập khẩu, doanh nghiệp Việt Nam tiếp tục gia tăng mua máy móc, thiết bị, linh kiện điện tử và nguyên phụ liệu từ Trung Quốc để phục vụ sản xuất trong nước và xuất khẩu. Đây là nhóm hàng có giá trị công nghệ cao, đóng vai trò đầu vào quan trọng với nhiều ngành công nghiệp.
Ở chiều xuất khẩu, nhiều mặt hàng thế mạnh của Việt Nam đang mở rộng hiện diện tại thị trường tỷ dân. Một số nhóm hàng ghi nhận mức tăng trưởng nổi bật trong năm 2025 như máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 16,89 tỷ USD, tăng 33,6%; rau quả đạt 5,5 tỷ USD, tăng 18,8%; thủy sản đạt 2,28 tỷ USD, tăng 31,9%. Điều này cho thấy cơ hội không còn bó hẹp ở nông sản truyền thống, mà đang lan sang nhóm chế biến, chế tạo và hàng công nghiệp có hàm lượng giá trị cao hơn.
Lợi thế lớn của doanh nghiệp Việt Nam nằm ở khoảng cách địa lý gần, chi phí logistics cạnh tranh và sự tương đồng nhất định trong nhu cầu tiêu dùng. Đây là yếu tố giúp hàng Việt có lợi thế hơn nhiều đối thủ khi tiếp cận thị trường Trung Quốc, nhất là với các nhóm hàng nông sản tươi, thực phẩm, thủy sản và hàng tiêu dùng nhanh.
Một trong những tín hiệu tích cực nhất đầu năm 2026 là Trung Quốc đã trở lại vị trí thị trường nhập khẩu nông sản lớn nhất của Việt Nam. Theo số liệu được dẫn trong bài, trong quý I/2026, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam đạt 16,69 tỷ USD, tăng 5,9%; trong đó Trung Quốc chiếm tỷ trọng 22,1%, vượt Mỹ và Nhật Bản. Đáng chú ý, xuất khẩu sang Trung Quốc trong quý đầu năm tăng tới 37,6%, mức cao nhất trong các thị trường lớn.
Diễn biến này mở ra dư địa đáng kể cho doanh nghiệp xuất khẩu nông sản, đặc biệt trong bối cảnh Trung Quốc đang xem xét mở cửa chính ngạch thêm cho nhiều sản phẩm của Việt Nam như rau quả đông lạnh, trái cây có múi, bơ, na, roi, dược liệu có nguồn gốc thực vật, thịt bò, thịt heo và các sản phẩm chăn nuôi. Nếu quá trình này được đẩy nhanh, quy mô xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc có thể còn tăng mạnh hơn trong thời gian tới.
Tuy nhiên, cơ hội chỉ thực sự biến thành tăng trưởng bền vững khi doanh nghiệp đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Trung Quốc hiện không còn là thị trường “dễ tính” như trước. Các tiêu chuẩn kỹ thuật, truy xuất nguồn gốc, chất lượng và an toàn thực phẩm đang được siết chặt, buộc doanh nghiệp Việt phải thay đổi cách tiếp cận, từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất bài bản, theo chuẩn thị trường.
Dù thương mại song phương tăng mạnh, cán cân thương mại giữa hai nước vẫn đang nghiêng rất mạnh về phía Trung Quốc. Năm 2025, Việt Nam nhập siêu từ thị trường này khoảng 116 tỷ USD. Riêng quý I/2026, mức thâm hụt thương mại đã lên gần 33,3 tỷ USD. Đây là con số lớn, phản ánh sự phụ thuộc đáng kể của nhiều ngành sản xuất trong nước vào nguồn nguyên liệu, linh kiện và máy móc từ Trung Quốc.
Tuy vậy, nhìn ở góc độ sản xuất, phần lớn hàng nhập khẩu từ Trung Quốc là đầu vào cho công nghiệp chế biến, chế tạo và xuất khẩu, nên chưa phải tín hiệu tiêu cực tuyệt đối. Vấn đề đặt ra là làm sao để doanh nghiệp Việt Nam nâng tỷ trọng hàng xuất khẩu có giá trị gia tăng cao hơn, qua đó cải thiện dần cơ cấu thương mại theo hướng cân bằng hơn.
Thực tế hiện nay cho thấy, hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc vẫn chủ yếu là nông sản hoặc các nhóm hàng có giá trị thấp hơn so với nhóm công nghệ cao mà Việt Nam nhập khẩu. Khoảng cách này cho thấy dư địa cải thiện còn rất lớn, nhưng cũng đặt ra yêu cầu về đầu tư công nghệ chế biến, nâng chuẩn vùng nguyên liệu và phát triển công nghiệp hỗ trợ trong nước.
Bên cạnh yếu tố thị trường, thương mại Việt - Trung còn được hỗ trợ bởi nền tảng hợp tác song phương và đa phương ngày càng rộng. Các hiệp định như ACFTA và RCEP tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc cắt giảm rào cản thương mại, thúc đẩy lưu chuyển hàng hóa và đầu tư giữa hai nước. Đặc biệt, việc ACFTA được nâng cấp trong thời gian tới được kỳ vọng sẽ tạo thêm lực đẩy cho thương mại song phương.
Song song với đó, trao đổi cấp cao giữa hai nước liên tục được duy trì, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn và củng cố niềm tin cho cộng đồng doanh nghiệp. Những hoạt động như khai trương Văn phòng Xúc tiến thương mại Việt Nam tại Hải Khẩu hay các chuyến thăm cấp Nhà nước, trao đổi văn kiện hợp tác về thương mại, nông nghiệp, kết nối giao thông và hạ tầng đang tạo thêm “đòn bẩy” cho giai đoạn tăng trưởng mới.
Với nền tảng 256,4 tỷ USD trong năm 2025 và đà tăng trưởng tiếp tục được duy trì trong quý I/2026, mục tiêu thương mại Việt Nam - Trung Quốc chạm mốc 300 tỷ USD là hoàn toàn khả thi. Quý đầu năm nay, kim ngạch hai chiều đã đạt 66,9 tỷ USD, tăng trưởng cao ở cả xuất khẩu lẫn nhập khẩu. Nếu xu hướng này kéo dài, quy mô thương mại song phương sẽ còn mở rộng mạnh trong các quý tiếp theo.
Tuy nhiên, điều quan trọng với doanh nghiệp Việt không chỉ là tăng kim ngạch, mà là nâng chất lượng tăng trưởng. Cơ hội tại thị trường Trung Quốc đang rất lớn, đặc biệt với nông sản, thực phẩm, điện tử, dệt may, da giày và hàng chế biến. Nhưng để tận dụng được dư địa ấy, doanh nghiệp cần chuyển mạnh từ tư duy bán hàng sang tư duy đáp ứng tiêu chuẩn thị trường, đầu tư dài hạn cho chất lượng, thương hiệu và chuỗi cung ứng.
Trong bối cảnh quan hệ kinh tế Việt - Trung tiếp tục được củng cố bằng cả thương mại, đầu tư và kết nối chính sách, mốc 300 tỷ USD có thể chỉ là vấn đề thời gian. Song đi cùng với tốc độ, yêu cầu lớn hơn đặt ra là phải hướng thương mại song phương phát triển cân bằng, hiệu quả và bền vững hơn, để doanh nghiệp Việt không chỉ tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, mà còn nâng được vị thế trên chính thị trường láng giềng rộng lớn này.