Cục Phát triển Doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể (Bộ Tài chính) phối hợp cùng các tổ chức quốc tế và hiệp hội ngành nghề tổ chức Hội thảo kỹ thuật tham vấn hoàn thiện chính sách hỗ trợ DNNVV. Sự kiện thu hút giới chuyên gia kinh tế và đại diện cộng đồng doanh nghiệp nhằm tái thiết kế không gian chính sách cho khu vực kinh tế tư nhân trong chu kỳ phát triển mới.
![]() |
| Hội thảo kỹ thuật: Tham vấn hoàn thiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ảnh: Trần Nam |
Việt Nam đã thiết lập hành lang pháp lý hỗ trợ DNNVV từ đầu thập niên 1990, đánh dấu bằng bước ngoặt quan trọng là sự ra đời của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 – văn bản có giá trị pháp lý cao nhất điều chỉnh khu vực này. Mặc dù bộ luật đã tạo đòn bẩy giúp nhiều doanh nghiệp tái cấu trúc và tối ưu hóa năng lực quản trị, khâu thực thi vẫn bộc lộ những độ trễ nhất định.
Bà Trịnh Thị Hương, Phó Cục trưởng Cục Phát triển Doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể (Bộ Tài chính), thẳng thắn nhìn nhận những rào cản hiện hữu:
"Dù chính sách đã được ban hành, tỷ lệ doanh nghiệp thực tế tiếp cận được các gói hỗ trợ về bảo lãnh tín dụng, đổi mới sáng tạo, cũng như quỹ đất và mặt bằng sản xuất vẫn ở mức thấp so với nhu cầu. Sự thiếu đồng bộ còn xuất phát từ việc một số địa phương chưa phân bổ nguồn lực và nhân sự chuyên trách để triển khai chính sách đến cơ sở."
Trong bối cảnh nền kinh tế đang bám sát mục tiêu tăng trưởng hai con số, Đảng và Nhà nước đã liên tiếp ban hành các định hướng chiến lược vĩ mô như Nghị quyết số 68-NQ/TW, Nghị quyết số 198/2025/QH15, Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 66-NQ/TW nhằm tháo gỡ điểm nghẽn cho kinh tế tư nhân. Dựa trên cơ sở chính trị này, Bộ Tài chính đang chủ trì việc sửa đổi toàn diện Luật Hỗ trợ DNNVV.
Định hướng sửa đổi luật lần này sẽ dịch chuyển từ hỗ trợ dàn trải sang đồng bộ, minh bạch, khả thi và có trọng điểm. Các trụ cột can thiệp chính bao gồm: Ưu tiên nguồn lực để doanh nghiệp nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy R&D (nghiên cứu và phát triển) và gia tăng hàm lượng giá trị khi tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu; Số hóa 100% quy trình tiếp cận hỗ trợ, qua đó cắt giảm triệt để chi phí tuân thủ và thủ tục hành chính; Trao quyền chủ động cho chính quyền địa phương, gắn liền với các bộ tiêu chí đánh giá và trách nhiệm giải trình minh bạch.
Dưới lăng kính hội nhập kinh tế quốc tế, định nghĩa về năng lực cạnh tranh của DNNVV không chỉ dừng lại ở chỉ số tài chính. Bà Gulmira Asanbaeva, Giám đốc Dự án Hệ sinh thái năng suất vì việc làm bền vững (Tổ chức Lao động Quốc tế - ILO tại Việt Nam), nhấn mạnh sự dịch chuyển trong chuỗi giá trị toàn cầu:
"Các đối tác thương mại quốc tế hiện nay không chỉ đặt lên bàn cân yếu tố giá thành hay tiến độ giao hàng. Lợi thế cạnh tranh đang thuộc về những doanh nghiệp tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn ESG (Môi trường, Xã hội và Quản trị), đảm bảo điều kiện làm việc an toàn, an sinh xã hội cho người lao động và nguyên tắc không phân biệt đối xử."
Theo đại diện ILO, việc nâng cấp chính sách không chỉ là bài toán thúc đẩy tăng trưởng GDP mà còn là công cụ điều tiết để người lao động được thụ hưởng thành quả phát triển một cách công bằng. Các khung hỗ trợ tới đây cần thiết kế các gói ưu đãi thiết thực nhằm khuyến khích doanh nghiệp nhỏ kiến tạo việc làm bền vững và mở rộng lưới an sinh xã hội.
Đồng thuận với các quan điểm trên, đại diện các hiệp hội doanh nghiệp tại hội thảo cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần tập trung khơi thông dòng vốn tín dụng, thiết kế các cơ chế tài chính đặc thù, phân loại chính xác quy mô doanh nghiệp và tạo hành lang thuận lợi để chuyển đổi mô hình từ hộ kinh doanh lên doanh nghiệp chính thức. Chìa khóa để chính sách đi vào thực tiễn chính là việc xây dựng hệ sinh thái dữ liệu liên thông giữa các cơ quan quản lý nhà nước, giúp quá trình thẩm định và cấp vốn hỗ trợ diễn ra liền mạch, minh bạch và hiệu quả.