Thứ ba 20/10/2026 05:31
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Nhiều câu hỏi 'đau đầu' cho đề án phát triển DNNN quy mô lớn

12/10/2020 00:00
Chính phủ vừa giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng đề án phát triển doanh nghiệp nhà nước (DNNN) quy mô lớn, đặc biệt là tập đoàn kinh tế nhà nước đa sở hữu (đề án) với ba nhiệm vụ chính.

Ngoài ra, Chính phủ cũng yêu cầu Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp khẩn trương xây dựng và trình Chính phủ, Thủ tướng chiến lược tổng thể đầu tư phát triển doanh nghiệp thuộc sự quản lý của Ủy ban.

Nhiều câu hỏi 'đau đầu' cho đề án phát triển DNNN quy mô lớn
Một trong những điều cần làm rõ là khái niệm DNNN “quy mô lớn” và sự phân biệt nó với tập đoàn kinh tế nhà nước đa sở hữu. Minh họa: Khều

DNNN “quy mô lớn” có phải là tập đoàn?

Điểm cần làm rõ đầu tiên liên quan đến đề án nói trên là khái niệm DNNN “quy mô lớn” và sự phân biệt nó với tập đoàn kinh tế nhà nước đa sở hữu. Theo cách viết trong đề án thì có thể hiểu DNNN “quy mô lớn” bao gồm tập đoàn kinh tế nhà nước đa sở hữu. Đến đây thì lại nảy sinh ra ba vấn đề liên quan dưới đây:

1. Ngoài tập đoàn kinh tế nhà nước ra, những DNNN nào thuộc phạm vi điều chỉnh của đề án này? Nếu nói là “quy mô lớn”, thì ở quy mô (vốn?) nào và cụ thể thế nào? Cần nói thêm ở đây là thực tế thì có thể coi các tập đoàn kinh tế nhà nước là các DNNN quy mô lớn rồi, bao trùm hầu hết các DNNN có quy mô đáng kể khác ở hầu khắp mọi lĩnh vực rồi nên khó mà hình dung vẫn còn DNNN “quy mô lớn” nào đó còn sót lại, chưa được đề cập đến.

2. Khái niệm tập đoàn kinh tế nhà nước “đa sở hữu” dường như mới xuất hiện từ năm 2017 trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XII. Đây là một khái niệm mới, chưa được định nghĩa rõ ràng, cụ thể gồm, ví dụ, để được gọi là tập đoàn kinh tế nhà nước đa sở hữu thì Nhà nước phải sở hữu tối thiểu bao nhiêu phần trăm doanh nghiệp, ở cấp độ nào (công ty mẹ, công ty con, công ty liên kết…). Nói rộng ra nữa, vậy DNNN “quy mô lớn” được đề cập trong đề án có được phép gồm cả những DNNN “đa sở hữu”?

Điểm liên quan nữa là cho dù Nhà nước có sở hữu đa số trong các tập đoàn kinh tế nhà nước thì về bản chất, chúng không phải là sở hữu nhà nước nữa nên không thể gọi là tập đoàn kinh tế nhà nước được, mà phải là cái gì đó đại loại như tập đoàn kinh tế (liên doanh, cổ phần). Do đó, các tập đoàn kinh tế này nói riêng và DNNN “quy mô lớn” đa sở hữu nói chung sẽ không còn/không nên được gọi là DNNN đúng nghĩa nữa. Mà như thế thì liệu chúng có nên chịu chế tài theo hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách về DNNN được đề cập đến trong đề án hay không?

3. Vì đã có sự đồng sở hữu bởi thành phần kinh tế tư nhân và nước ngoài nên tập đoàn kinh tế nhà nước đa sở hữu nếu cứ duy nhất theo định hướng sản xuất kinh doanh của Nhà nước, là định hướng thường không nhất thiết trùng hợp với định hướng của chủ sở hữu thuộc các thành phần khác, thì dễ dẫn đến khả năng mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước đa sở hữu sẽ không hấp dẫn được các nhà đầu tư phi Nhà nước. Nói cách khác, một khi đã (muốn) thành lập mô hình sở hữu đa thành phần trong các tập đoàn kinh tế thì cần phải để các tập đoàn kinh tế này vận hành theo nguyên lý thị trường, tức cũng có nghĩa là tính định hướng nhà nước với chúng, được thể hiện ở trên các khía cạnh như công cụ bình ổn kinh tế vĩ mô hoặc sẽ không còn nữa, hoặc nó sẽ trở thành nguyên nhân cho những xung đột pháp lý một khi cứ áp đặt ý chí của Nhà nước trong định hướng hoạt động của tập đoàn kinh tế “cổ phần” này.

Tóm lại, nếu các khái niệm, định nghĩa còn không được làm rõ ngay từ đầu thì mọi kế hoạch, đề án chắc chắn sẽ vấp phải tình trạng dò dẫm, lúng túng, mâu thuẫn, bất đồng, bất nhất trong việc xác định mục tiêu, thực thi, vận hành và tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện.

Cái cũ còn chưa rõ, sao phải làm cái mới?

Đề án nói trên có nhiệm vụ phát triển DNNN quy mô lớn và/gồm các tập đoàn kinh tế nhà nước đa sở hữu. Vì các DNNN quy mô lớn và tập đoàn kinh tế nhà nước đa sở hữu này chắc chắn gồm các tập đoàn kinh tế được thí điểm thành lập trong giai đoạn 2005-2009 nên việc phát triển DNNN quy mô lớn và/gồm các tập đoàn kinh tế nhà nước đa sở hữu cũng có nghĩa là (bao gồm việc) phát triển các tập đoàn kinh tế được thành lập thí điểm này.

Điểm mấu chốt ở đây là việc thí điểm thành lập 11 tập đoàn kinh tế nhà nước trước đây dường như chưa bao giờ được đánh giá và tổng kết một cách đầy đủ, tổng quát và chính thức. Tuy Thủ tướng Chính phủ có ban hành Quyết định 1428 năm 2012 về kết thúc thí điểm hình thành tập đoàn Công nghiệp xây dựng Việt Nam và tập đoàn Phát triển nhà và Đô thị Việt Nam (đây là hai trong số 11 tập đoàn kinh tế được thành lập thí điểm), nhưng việc này không có nghĩa là (mô hình) chín tập đoàn kinh tế nhà nước còn lại đã thành công, cần được tiếp tục phát triển và nhân rộng, hay khuôn khổ, cơ chế, chính sách pháp luật về các tập đoàn kinh tế nhà nước đã rõ ràng. Lưu ý thêm rằng tuy cũng đã có một vài đánh giá về những vấn đề này nhưng đó chỉ là những đánh giá mang tính cá nhân, và vẫn chỉ dừng lại ở mức rất chung chung, định tính.

Nêu những chi tiết như trên để chỉ ra những vấn đề bất ổn, bất hợp lý liên quan. Trong khi những vấn đề cơ bản về tập đoàn kinh tế nhà nước chưa được làm rõ (như thế nào là tập đoàn kinh tế nhà nước, nó có phải là một mô hình thành công, xứng đáng tồn tại và cần tiếp tục phát triển, nhân rộng hay không, và nếu là mô hình thành công thì đâu là những yếu kém hiện hữu cụ thể cần khắc phục của mô hình này...) thì việc tiếp tục xây dựng đề án này cho thấy hoặc tập đoàn kinh tế nhà nước được thành lập thí điểm trước đây không phải là/chẳng có gì chung với “DNNN quy mô lớn” và “tập đoàn kinh tế nhà nước đa sở hữu” được nêu trong định hướng xây dựng đề án; hoặc đơn giản hơn là đã quên mất sự hiện diện của 11 tập đoàn kinh tế nhà nước thí điểm này. Điều nào trong hai khả năng này cũng đều là không nên.

Và lại chồng chéo

Trong khi Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) được giao nhiệm vụ xây dựng đề án thì Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp (Ủy ban) cũng lại được giao nhiệm vụ xây dựng chiến lược tổng thể đầu tư phát triển doanh nghiệp thuộc sự quản lý của Ủy ban.

Câu hỏi được đặt ra ở đây là sự phân tách nhiệm vụ như trên có tạo ra sự chồng chéo, mâu thuẫn, dẫm chân lên nhau giữa Bộ KH&ĐT và Ủy ban hay không?

Như đã phân tích, DNNN quy mô lớn và tập đoàn kinh tế nhà nước đa sở hữu rất có thể là gồm các tập đoàn kinh tế nhà nước đã được bàn giao cho Ủy ban quản lý. Nếu để Bộ KH&ĐT xây dựng đề án phát triển (mà có lẽ sẽ phải gồm chiến lược tổng thể đầu tư, phát triển doanh nghiệp) cho các doanh nghiệp/tập đoàn kinh tế này thì sẽ dẫn đến khả năng đề án phát triển của Bộ KH&ĐT không tương thích, phù hợp với cái của Ủy ban. Ngược lại, Ủy ban hoạch định chiến lược phát triển cho các doanh nghiệp thuộc sự quản lý của mình cũng có khả năng sẽ mâu thuẫn với định hướng của Bộ KH&ĐT đối với các DNNN và tập đoàn kinh tế nhà nước nói chung.

Để khắc phục tình trạng trên thì buộc phải có thêm một yêu cầu nữa, đại loại là Bộ KH&ĐT/Ủy ban chủ trì phối hợp (với bên kia) xây dựng chiến lược đầu tư phát triển... Nhưng đến đây thì câu hỏi tiếp theo sẽ là vậy thì thành lập ra Ủy ban để làm gì? Chẳng phải là Ủy ban ra đời chỉ làm rối/khó thêm tình hình hay sao?

Phan Ngọc Minh

Tin bài khác
Khu kinh tế Dung Quất, Quảng Ngãi: Cơ hội bứt phá từ cơ chế đặc thù

Khu kinh tế Dung Quất, Quảng Ngãi: Cơ hội bứt phá từ cơ chế đặc thù

Bộ Chính trị đồng ý chủ trương cho Khu kinh tế Dung Quất áp dụng các cơ chế, chính sách đang được áp dụng đối với khu thương mại tự do tại Hải Phòng, Đà Nẵng và các cơ chế, chính sách ưu đãi cao nhất theo quy định được nêu trong chủ trương.
Đà Nẵng đầu tư 3.525 tỷ đồng phát triển khu sản xuất và logistics

Đà Nẵng đầu tư 3.525 tỷ đồng phát triển khu sản xuất và logistics

Dự án hạ tầng 3.525 tỷ đồng tại vị trí số 7 bổ sung một mắt xích vào Khu thương mại tự do Đà Nẵng. Tiềm năng thu hút đầu tư sẽ phụ thuộc tiến độ hạ tầng, kết nối logistics và khả năng lấp đầy bằng các dự án có giá trị gia tăng cao.
Thủ tướng Lê Minh Hưng: Hoàn thiện Luật Đấu giá tài sản để kiểm soát giá nhà ở xã hội

Thủ tướng Lê Minh Hưng: Hoàn thiện Luật Đấu giá tài sản để kiểm soát giá nhà ở xã hội

Thảo luận về dự án Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi) sáng 19/10, Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh yêu cầu đồng bộ quy định về đấu giá với pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và đấu thầu. Việc hoàn thiện luật không chỉ nhằm chuẩn hóa trình tự, thủ tục đấu giá mà còn góp phần quản lý, điều tiết giá nhà ở xã hội và nhà cho thuê, tạo điều kiện để người thu nhập thấp tiếp cận nhà ở.
Thủ tướng kiên định kiểm soát lạm phát để bảo vệ thành quả tăng trưởng

Thủ tướng kiên định kiểm soát lạm phát để bảo vệ thành quả tăng trưởng

Thủ tướng Chính Lê Minh Hưng nhấn mạnh tăng trưởng kinh tế phải đi cùng ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát và giảm chi phí cho người dân, doanh nghiệp. Đây là nền tảng để bảo đảm thành quả phát triển không bị bào mòn bởi giá cả tăng cao.
Việt Nam - Thụy Sĩ thúc đẩy hợp tác công nghệ sau lễ ký VEFTA

Việt Nam - Thụy Sĩ thúc đẩy hợp tác công nghệ sau lễ ký VEFTA

Sau lễ ký Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EFTA (VEFTA), hợp tác Việt Nam – Thụy Sĩ đứng trước cơ hội mở rộng sang những lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao. Trọng tâm tiếp theo là kết nối doanh nghiệp với trường đại học, viện nghiên cứu và các trung tâm đổi mới sáng tạo để chuyển định hướng hợp tác thành dự án, công nghệ và năng lực sản xuất cụ thể.
Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú: Chỉ nên tăng giá điện khi phát sinh chi phí

Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú: Chỉ nên tăng giá điện khi phát sinh chi phí

Nhấn mạnh yêu cầu kiểm soát lạm phát dưới 4,5%, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đề nghị rà soát, điều hành giá các mặt hàng thiết yếu, trong đó giá điện cần được nghiên cứu theo hướng giảm, chỉ xem xét tăng khi chi phí đầu vào phát sinh.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn: Kiểm soát giá cả, khơi thông nguồn vốn cho doanh nghiệp

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn: Kiểm soát giá cả, khơi thông nguồn vốn cho doanh nghiệp

Tại phiên thảo luận tổ ngày 18/10, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh yêu cầu chủ động kiểm soát giá các mặt hàng thiết yếu, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời nghiên cứu giải pháp giảm lãi suất cho vay, tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận vốn, phục hồi và mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Việt Nam và Iceland tăng tốc triển khai FTA với EFTA

Việt Nam và Iceland tăng tốc triển khai FTA với EFTA

Việc ký kết Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EFTA mở thêm dư địa hợp tác giữa Việt Nam và Iceland, nhất là trong thương mại, đầu tư và năng lượng. Hai nước nhất trí tăng cường phối hợp, thúc đẩy các thủ tục cần thiết để sớm đưa Hiệp định vào thực tiễn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp khai thác hiệu quả những cơ hội mới.
Hiệp định Việt Nam - EFTA mở thêm dư địa xuất khẩu cho doanh nghiệp Việt

Hiệp định Việt Nam - EFTA mở thêm dư địa xuất khẩu cho doanh nghiệp Việt

Sự kiện Việt Nam ký Hiệp định Thương mại tự do với Hiệp hội Mậu dịch Tự do châu Âu (EFTA) là dấu mốc quan trọng, mở thêm cánh cửa tiếp cận các thị trường có sức mua cao, đồng thời tạo cơ hội thu hút vốn, công nghệ và mở rộng cơ hội việc làm. Hiệu quả thực tế sẽ phụ thuộc vào khả năng tận dụng ưu đãi và đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Xuất nhập khẩu năm nay hướng tới mốc 1.110 tỷ USD

Xuất nhập khẩu năm nay hướng tới mốc 1.110 tỷ USD

Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam năm 2026 ước đạt 1.110 tỷ USD, lần đầu vượt ngưỡng 1.000 tỷ USD. Kết quả này cùng đà tăng trưởng kinh tế và dòng vốn đầu tư nước ngoài cho thấy quy mô thương mại tiếp tục mở rộng, song cũng đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng, tăng giá trị hàng hóa và củng cố sức chống chịu của doanh nghiệp.
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu giảm lãi suất cho vay 1,5 - 2%

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu giảm lãi suất cho vay 1,5 - 2%

Trước áp lực chi phí vốn còn cao, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khẩn trương triển khai các giải pháp thực chất nhằm giảm lãi suất cho vay từ 1,5 - 2% đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên; đồng thời tăng cường kiểm soát, xử lý tình trạng sở hữu chéo, sở hữu ngầm và thao túng hoạt động ngân hàng.
Vì sao doanh nghiệp đầu tàu ở Đồng bằng sông Cửu Long vẫn khó bứt phá?

Vì sao doanh nghiệp đầu tàu ở Đồng bằng sông Cửu Long vẫn khó bứt phá?

Dù có lợi thế về nông nghiệp, thủy sản và xuất khẩu, doanh nghiệp đầu tàu Đồng bằng sông Cửu Long vẫn khó bứt phá vì vướng vốn, lãi suất, chính sách và hạn chế công nghệ. Tăng cường liên kết vùng, cải thiện môi trường đầu tư và tháo gỡ điểm nghẽn thực thi là những yêu cầu cấp thiết.
Khơi thông nguồn vốn để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng từ 10%

Khơi thông nguồn vốn để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng từ 10%

Mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên trong năm 2027 đặt ra yêu cầu cao hơn đối với khả năng huy động và sử dụng nguồn lực của nền kinh tế. Kết luận số 106-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhấn mạnh việc phối hợp chính sách tài khóa, tiền tệ, cải thiện môi trường đầu tư và tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển. Đây là những định hướng quan trọng nhằm chuyển mục tiêu tăng trưởng thành kết quả thực chất.
Điều hành giá cuối năm 2026: Chủ động nguồn cung, kiểm soát lạm phát

Điều hành giá cuối năm 2026: Chủ động nguồn cung, kiểm soát lạm phát

Công điện số 70/CĐ-TTg ngày 15/10/2026 yêu cầu các bộ, ngành và địa phương tăng cường quản lý, điều hành giá, bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu, xử lý nghiêm hành vi đầu cơ, găm hàng, phấn đấu kiểm soát CPI bình quân năm 2026 tăng khoảng 4,5%.
TP. Hồ Chí Minh dồn lực cho mục tiêu tăng trưởng GRDP hai con số

TP. Hồ Chí Minh dồn lực cho mục tiêu tăng trưởng GRDP hai con số

GRDP tăng 9,06% trong 9 tháng đầu năm 2026, thu hút 17,8 tỷ USD vốn FDI và giải ngân đầu tư công đạt 75,5% kế hoạch, TP. Hồ Chí Minh đang tăng tốc để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cả năm. Tuy nhiên, với yêu cầu GRDP quý IV tăng 13,23%, thành phố cần tiếp tục khơi thông nguồn lực, tháo gỡ vướng mắc dự án và thúc đẩy đầu tư công lẫn tư nhân.