Thứ năm 05/11/2026 02:28
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Nhiều câu hỏi 'đau đầu' cho đề án phát triển DNNN quy mô lớn

12/10/2020 00:00
Chính phủ vừa giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng đề án phát triển doanh nghiệp nhà nước (DNNN) quy mô lớn, đặc biệt là tập đoàn kinh tế nhà nước đa sở hữu (đề án) với ba nhiệm vụ chính.

Ngoài ra, Chính phủ cũng yêu cầu Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp khẩn trương xây dựng và trình Chính phủ, Thủ tướng chiến lược tổng thể đầu tư phát triển doanh nghiệp thuộc sự quản lý của Ủy ban.

Nhiều câu hỏi 'đau đầu' cho đề án phát triển DNNN quy mô lớn
Một trong những điều cần làm rõ là khái niệm DNNN “quy mô lớn” và sự phân biệt nó với tập đoàn kinh tế nhà nước đa sở hữu. Minh họa: Khều

DNNN “quy mô lớn” có phải là tập đoàn?

Điểm cần làm rõ đầu tiên liên quan đến đề án nói trên là khái niệm DNNN “quy mô lớn” và sự phân biệt nó với tập đoàn kinh tế nhà nước đa sở hữu. Theo cách viết trong đề án thì có thể hiểu DNNN “quy mô lớn” bao gồm tập đoàn kinh tế nhà nước đa sở hữu. Đến đây thì lại nảy sinh ra ba vấn đề liên quan dưới đây:

1. Ngoài tập đoàn kinh tế nhà nước ra, những DNNN nào thuộc phạm vi điều chỉnh của đề án này? Nếu nói là “quy mô lớn”, thì ở quy mô (vốn?) nào và cụ thể thế nào? Cần nói thêm ở đây là thực tế thì có thể coi các tập đoàn kinh tế nhà nước là các DNNN quy mô lớn rồi, bao trùm hầu hết các DNNN có quy mô đáng kể khác ở hầu khắp mọi lĩnh vực rồi nên khó mà hình dung vẫn còn DNNN “quy mô lớn” nào đó còn sót lại, chưa được đề cập đến.

2. Khái niệm tập đoàn kinh tế nhà nước “đa sở hữu” dường như mới xuất hiện từ năm 2017 trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XII. Đây là một khái niệm mới, chưa được định nghĩa rõ ràng, cụ thể gồm, ví dụ, để được gọi là tập đoàn kinh tế nhà nước đa sở hữu thì Nhà nước phải sở hữu tối thiểu bao nhiêu phần trăm doanh nghiệp, ở cấp độ nào (công ty mẹ, công ty con, công ty liên kết…). Nói rộng ra nữa, vậy DNNN “quy mô lớn” được đề cập trong đề án có được phép gồm cả những DNNN “đa sở hữu”?

Điểm liên quan nữa là cho dù Nhà nước có sở hữu đa số trong các tập đoàn kinh tế nhà nước thì về bản chất, chúng không phải là sở hữu nhà nước nữa nên không thể gọi là tập đoàn kinh tế nhà nước được, mà phải là cái gì đó đại loại như tập đoàn kinh tế (liên doanh, cổ phần). Do đó, các tập đoàn kinh tế này nói riêng và DNNN “quy mô lớn” đa sở hữu nói chung sẽ không còn/không nên được gọi là DNNN đúng nghĩa nữa. Mà như thế thì liệu chúng có nên chịu chế tài theo hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách về DNNN được đề cập đến trong đề án hay không?

3. Vì đã có sự đồng sở hữu bởi thành phần kinh tế tư nhân và nước ngoài nên tập đoàn kinh tế nhà nước đa sở hữu nếu cứ duy nhất theo định hướng sản xuất kinh doanh của Nhà nước, là định hướng thường không nhất thiết trùng hợp với định hướng của chủ sở hữu thuộc các thành phần khác, thì dễ dẫn đến khả năng mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước đa sở hữu sẽ không hấp dẫn được các nhà đầu tư phi Nhà nước. Nói cách khác, một khi đã (muốn) thành lập mô hình sở hữu đa thành phần trong các tập đoàn kinh tế thì cần phải để các tập đoàn kinh tế này vận hành theo nguyên lý thị trường, tức cũng có nghĩa là tính định hướng nhà nước với chúng, được thể hiện ở trên các khía cạnh như công cụ bình ổn kinh tế vĩ mô hoặc sẽ không còn nữa, hoặc nó sẽ trở thành nguyên nhân cho những xung đột pháp lý một khi cứ áp đặt ý chí của Nhà nước trong định hướng hoạt động của tập đoàn kinh tế “cổ phần” này.

Tóm lại, nếu các khái niệm, định nghĩa còn không được làm rõ ngay từ đầu thì mọi kế hoạch, đề án chắc chắn sẽ vấp phải tình trạng dò dẫm, lúng túng, mâu thuẫn, bất đồng, bất nhất trong việc xác định mục tiêu, thực thi, vận hành và tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện.

Cái cũ còn chưa rõ, sao phải làm cái mới?

Đề án nói trên có nhiệm vụ phát triển DNNN quy mô lớn và/gồm các tập đoàn kinh tế nhà nước đa sở hữu. Vì các DNNN quy mô lớn và tập đoàn kinh tế nhà nước đa sở hữu này chắc chắn gồm các tập đoàn kinh tế được thí điểm thành lập trong giai đoạn 2005-2009 nên việc phát triển DNNN quy mô lớn và/gồm các tập đoàn kinh tế nhà nước đa sở hữu cũng có nghĩa là (bao gồm việc) phát triển các tập đoàn kinh tế được thành lập thí điểm này.

Điểm mấu chốt ở đây là việc thí điểm thành lập 11 tập đoàn kinh tế nhà nước trước đây dường như chưa bao giờ được đánh giá và tổng kết một cách đầy đủ, tổng quát và chính thức. Tuy Thủ tướng Chính phủ có ban hành Quyết định 1428 năm 2012 về kết thúc thí điểm hình thành tập đoàn Công nghiệp xây dựng Việt Nam và tập đoàn Phát triển nhà và Đô thị Việt Nam (đây là hai trong số 11 tập đoàn kinh tế được thành lập thí điểm), nhưng việc này không có nghĩa là (mô hình) chín tập đoàn kinh tế nhà nước còn lại đã thành công, cần được tiếp tục phát triển và nhân rộng, hay khuôn khổ, cơ chế, chính sách pháp luật về các tập đoàn kinh tế nhà nước đã rõ ràng. Lưu ý thêm rằng tuy cũng đã có một vài đánh giá về những vấn đề này nhưng đó chỉ là những đánh giá mang tính cá nhân, và vẫn chỉ dừng lại ở mức rất chung chung, định tính.

Nêu những chi tiết như trên để chỉ ra những vấn đề bất ổn, bất hợp lý liên quan. Trong khi những vấn đề cơ bản về tập đoàn kinh tế nhà nước chưa được làm rõ (như thế nào là tập đoàn kinh tế nhà nước, nó có phải là một mô hình thành công, xứng đáng tồn tại và cần tiếp tục phát triển, nhân rộng hay không, và nếu là mô hình thành công thì đâu là những yếu kém hiện hữu cụ thể cần khắc phục của mô hình này...) thì việc tiếp tục xây dựng đề án này cho thấy hoặc tập đoàn kinh tế nhà nước được thành lập thí điểm trước đây không phải là/chẳng có gì chung với “DNNN quy mô lớn” và “tập đoàn kinh tế nhà nước đa sở hữu” được nêu trong định hướng xây dựng đề án; hoặc đơn giản hơn là đã quên mất sự hiện diện của 11 tập đoàn kinh tế nhà nước thí điểm này. Điều nào trong hai khả năng này cũng đều là không nên.

Và lại chồng chéo

Trong khi Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) được giao nhiệm vụ xây dựng đề án thì Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp (Ủy ban) cũng lại được giao nhiệm vụ xây dựng chiến lược tổng thể đầu tư phát triển doanh nghiệp thuộc sự quản lý của Ủy ban.

Câu hỏi được đặt ra ở đây là sự phân tách nhiệm vụ như trên có tạo ra sự chồng chéo, mâu thuẫn, dẫm chân lên nhau giữa Bộ KH&ĐT và Ủy ban hay không?

Như đã phân tích, DNNN quy mô lớn và tập đoàn kinh tế nhà nước đa sở hữu rất có thể là gồm các tập đoàn kinh tế nhà nước đã được bàn giao cho Ủy ban quản lý. Nếu để Bộ KH&ĐT xây dựng đề án phát triển (mà có lẽ sẽ phải gồm chiến lược tổng thể đầu tư, phát triển doanh nghiệp) cho các doanh nghiệp/tập đoàn kinh tế này thì sẽ dẫn đến khả năng đề án phát triển của Bộ KH&ĐT không tương thích, phù hợp với cái của Ủy ban. Ngược lại, Ủy ban hoạch định chiến lược phát triển cho các doanh nghiệp thuộc sự quản lý của mình cũng có khả năng sẽ mâu thuẫn với định hướng của Bộ KH&ĐT đối với các DNNN và tập đoàn kinh tế nhà nước nói chung.

Để khắc phục tình trạng trên thì buộc phải có thêm một yêu cầu nữa, đại loại là Bộ KH&ĐT/Ủy ban chủ trì phối hợp (với bên kia) xây dựng chiến lược đầu tư phát triển... Nhưng đến đây thì câu hỏi tiếp theo sẽ là vậy thì thành lập ra Ủy ban để làm gì? Chẳng phải là Ủy ban ra đời chỉ làm rối/khó thêm tình hình hay sao?

Phan Ngọc Minh

Tin bài khác
Pháp hỗ trợ Việt Nam chuẩn bị 35.000 nhân lực đường sắt vào năm 2030

Pháp hỗ trợ Việt Nam chuẩn bị 35.000 nhân lực đường sắt vào năm 2030

Với khoản tài trợ 850.000 euro từ AFD, chương trình hợp tác đào tạo đã giúp 110 cán bộ ngành xây dựng tiếp cận kinh nghiệm quốc tế về phát triển đường sắt tốc độ cao, tạo nền tảng nhân lực cho các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm.
Tuyên Quang: Đánh thức lợi thế, mở đường cho những động lực tăng trưởng mới

Tuyên Quang: Đánh thức lợi thế, mở đường cho những động lực tăng trưởng mới

Không gian phát triển được mở rộng sau hợp nhất hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang đang tạo thêm cơ hội để địa phương khai thác tiềm năng về du lịch, nông nghiệp, công nghiệp và kinh tế cửa khẩu. Kỷ niệm 195 năm Ngày thành lập tỉnh (4/11/1831 – 4/11/2026) cũng là dịp để Tuyên Quang nhìn lại hành trình lịch sử, đồng thời xác định những động lực mới nhằm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững.
Sửa Luật Đấu giá tài sản để bịt kẽ hở thông đồng, dìm giá và bỏ cọc

Sửa Luật Đấu giá tài sản để bịt kẽ hở thông đồng, dìm giá và bỏ cọc

Từ hành vi thông đồng, dìm giá đến tình trạng trả giá cao rồi bỏ cọc, những bất cập trong hoạt động đấu giá tài sản đang đặt ra yêu cầu hoàn thiện cơ chế kiểm soát ngay từ khâu đăng ký đến khi thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Tại phiên thảo luận ngày 3/11, các đại biểu Quốc hội đề nghị làm rõ trách nhiệm của đấu giá viên, tổ chức hành nghề đấu giá và tăng cường công cụ nhận diện vi phạm, trong khi cơ quan soạn thảo đề xuất nâng tiền đặt trước, bổ sung chế tài cấm tham gia đấu giá.
Vốn FDI vào Việt Nam lập đỉnh 17 năm, vốn giải ngân vượt 24 tỷ USD

Vốn FDI vào Việt Nam lập đỉnh 17 năm, vốn giải ngân vượt 24 tỷ USD

Thu hút đầu tư nước ngoài tiếp tục là điểm sáng của nền kinh tế trong 10 tháng năm 2026 khi tổng vốn FDI đăng ký đạt 54,85 tỷ USD, tăng 74% so với cùng kỳ và cao nhất kể từ năm 2009. Đáng chú ý, vốn FDI thực hiện đạt 24,08 tỷ USD, mức cao nhất trong cùng kỳ 5 năm qua, cho thấy dòng vốn ngoại không chỉ gia tăng về đăng ký mà còn được đẩy mạnh giải ngân.
Sản xuất công nghiệp tăng tốc, chỉ số IIP 10 tháng đạt mức cao nhất 8 năm

Sản xuất công nghiệp tăng tốc, chỉ số IIP 10 tháng đạt mức cao nhất 8 năm

Đà tăng trưởng của ngành công nghiệp tiếp tục được củng cố trong tháng 10/2026, với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 15% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng, IIP tăng 12,4% – mức cao nhất trong cùng kỳ giai đoạn 2019-2026, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò động lực chủ yếu.
Nhà ở xã hội sau 5 năm có thể không được bán theo giá thị trường

Nhà ở xã hội sau 5 năm có thể không được bán theo giá thị trường

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh khẳng định nhà ở xã hội không thể trở thành công cụ đầu cơ sau khi người mua đã hưởng chính sách ưu đãi. Theo hướng chỉnh lý dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi), sau 5 năm, chủ sở hữu vẫn phải chuyển nhượng cho người đủ điều kiện hưởng chính sách, với giá không vượt mức giá tại thời điểm mua. Tuy nhiên, cơ chế xác định giá, mua lại và chuyển tiếp vẫn là những vấn đề cần được làm rõ.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Định vị Việt Nam thành trung tâm logistics khu vực và thế giới

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Định vị Việt Nam thành trung tâm logistics khu vực và thế giới

Nhấn mạnh yêu cầu nâng tầm chiến lược phát triển logistics quốc gia, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt mục tiêu đưa Việt Nam trở thành trung tâm trung chuyển, phân phối hàng hóa quan trọng của khu vực và thế giới, đồng thời yêu cầu sớm tháo gỡ những điểm nghẽn về hạ tầng, thể chế và kết nối chuỗi cung ứng.
Tuyên Quang mở rộng thị trường, nâng giá trị hàng hóa

Tuyên Quang mở rộng thị trường, nâng giá trị hàng hóa

Với mạng lưới phân phối ngày càng đa dạng và hoạt động giao thương biên giới tăng trưởng, Tuyên Quang đang mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa. Để khai thác hiệu quả lợi thế này, tỉnh chú trọng kết nối sản xuất với nhu cầu thị trường, nâng chất lượng sản phẩm và phát triển xuất khẩu bền vững.
Lào Cai tăng cường quản lý giá, chủ động nguồn hàng dịp cuối năm

Lào Cai tăng cường quản lý giá, chủ động nguồn hàng dịp cuối năm

Trước nhu cầu tiêu dùng thường tăng vào những tháng cuối năm, UBND tỉnh Lào Cai yêu cầu các sở, ngành và địa phương chủ động theo dõi cung cầu, triển khai các biện pháp bình ổn thị trường, kiểm soát lạm phát, không để xảy ra tình trạng thiếu hàng hoặc tăng giá bất hợp lý, nhất là trong dịp Tết Nguyên đán năm 2027.
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện chính sách ưu đãi đầu tư

Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện chính sách ưu đãi đầu tư

Trong cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư quốc tế ngày càng gay gắt, Việt Nam đứng trước yêu cầu vừa tạo sức hấp dẫn đủ lớn đối với các nhà đầu tư, vừa bảo đảm mỗi đồng ngân sách và nguồn lực hỗ trợ mang lại giá trị thực chất cho nền kinh tế. Định hướng sửa đổi Luật Đầu tư, chính sách ưu đãi đầu tư lần này đặt trọng tâm vào chất lượng dòng vốn, mức độ lan tỏa và trách nhiệm thực hiện cam kết của nhà đầu tư.
Ưu đãi đầu tư cần đi cùng cam kết và hiệu quả thực tế

Ưu đãi đầu tư cần đi cùng cam kết và hiệu quả thực tế

Trước áp lực cạnh tranh thu hút dòng vốn quốc tế, Việt Nam cần thiết kế chính sách ưu đãi đầu tư đủ sức hấp dẫn nhưng không dừng ở quy mô vốn đăng ký. Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn, các khoản hỗ trợ phải gắn với kết quả đầu ra có thể đo lường, kiểm tra, giám sát; trường hợp nhà đầu tư không thực hiện đúng cam kết cần có cơ chế chấm dứt hoặc thu hồi ưu đãi.
Hơn 12,87 triệu tỷ đồng tài sản công đặt ra áp lực chống lãng phí

Hơn 12,87 triệu tỷ đồng tài sản công đặt ra áp lực chống lãng phí

Cả nước đã kiểm kê 20 loại tài sản công với tổng nguyên giá hơn 12,87 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, đằng sau quy mô nguồn lực khổng lồ là những bất cập trong hạch toán, bàn giao và sử dụng tài sản. Yêu cầu hiện nay không chỉ là hoàn thiện sổ sách mà phải đưa tài sản có khả năng khai thác trở lại phục vụ hoạt động công, phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu.
Tăng trưởng 10% đặt quý IV trước áp lực tăng tốc 12,5%

Tăng trưởng 10% đặt quý IV trước áp lực tăng tốc 12,5%

Mục tiêu tăng trưởng 10% trong năm 2026 đang đặt nền kinh tế trước yêu cầu tăng tốc mạnh trong quý cuối năm. Trước Quốc hội, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng cho biết Chính phủ sẽ tập trung tháo gỡ những rào cản, đẩy nhanh giải ngân đầu tư công và triển khai các giải pháp kiểm soát lạm phát, nhằm tạo dư địa cho sản xuất, kinh doanh và giữ ổn định kinh tế vĩ mô.
Doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh kiến nghị tháo gỡ vướng mắc từ đầu tư đến giải thể

Doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh kiến nghị tháo gỡ vướng mắc từ đầu tư đến giải thể

Tại Hội nghị Đối thoại Doanh nghiệp - Chính quyền TP. Hồ Chí Minh lần thứ 281, ngày 30/10, nhiều kiến nghị tập trung vào những thủ tục phát sinh trong suốt vòng đời hoạt động của doanh nghiệp, từ đăng ký đầu tư, thay đổi nội dung kinh doanh đến giải thể và chấm dứt hoạt động đơn vị trực thuộc. Những vấn đề được nêu ra đặt ra yêu cầu không chỉ giải đáp tại hội nghị mà còn phải theo dõi, đôn đốc và công khai kết quả xử lý.
IMF dự báo bước tiến mới về GDP bình quân đầu người Việt Nam

IMF dự báo bước tiến mới về GDP bình quân đầu người Việt Nam

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo, GDP danh nghĩa bình quân đầu người của Việt Nam có thể đạt 5.259 USD trong năm 2026, cao hơn mức 5.153 USD của Indonesia. Đây là bước tiến đáng chú ý trong tương quan quy mô kinh tế giữa hai nước, trong bối cảnh Việt Nam tiếp tục thu hút dòng vốn đầu tư và mở rộng sản xuất hướng tới xuất khẩu.