Thứ năm 29/10/2026 07:42
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Nhiều câu hỏi 'đau đầu' cho đề án phát triển DNNN quy mô lớn

12/10/2020 00:00
Chính phủ vừa giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng đề án phát triển doanh nghiệp nhà nước (DNNN) quy mô lớn, đặc biệt là tập đoàn kinh tế nhà nước đa sở hữu (đề án) với ba nhiệm vụ chính.

Ngoài ra, Chính phủ cũng yêu cầu Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp khẩn trương xây dựng và trình Chính phủ, Thủ tướng chiến lược tổng thể đầu tư phát triển doanh nghiệp thuộc sự quản lý của Ủy ban.

Nhiều câu hỏi 'đau đầu' cho đề án phát triển DNNN quy mô lớn
Một trong những điều cần làm rõ là khái niệm DNNN “quy mô lớn” và sự phân biệt nó với tập đoàn kinh tế nhà nước đa sở hữu. Minh họa: Khều

DNNN “quy mô lớn” có phải là tập đoàn?

Điểm cần làm rõ đầu tiên liên quan đến đề án nói trên là khái niệm DNNN “quy mô lớn” và sự phân biệt nó với tập đoàn kinh tế nhà nước đa sở hữu. Theo cách viết trong đề án thì có thể hiểu DNNN “quy mô lớn” bao gồm tập đoàn kinh tế nhà nước đa sở hữu. Đến đây thì lại nảy sinh ra ba vấn đề liên quan dưới đây:

1. Ngoài tập đoàn kinh tế nhà nước ra, những DNNN nào thuộc phạm vi điều chỉnh của đề án này? Nếu nói là “quy mô lớn”, thì ở quy mô (vốn?) nào và cụ thể thế nào? Cần nói thêm ở đây là thực tế thì có thể coi các tập đoàn kinh tế nhà nước là các DNNN quy mô lớn rồi, bao trùm hầu hết các DNNN có quy mô đáng kể khác ở hầu khắp mọi lĩnh vực rồi nên khó mà hình dung vẫn còn DNNN “quy mô lớn” nào đó còn sót lại, chưa được đề cập đến.

2. Khái niệm tập đoàn kinh tế nhà nước “đa sở hữu” dường như mới xuất hiện từ năm 2017 trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XII. Đây là một khái niệm mới, chưa được định nghĩa rõ ràng, cụ thể gồm, ví dụ, để được gọi là tập đoàn kinh tế nhà nước đa sở hữu thì Nhà nước phải sở hữu tối thiểu bao nhiêu phần trăm doanh nghiệp, ở cấp độ nào (công ty mẹ, công ty con, công ty liên kết…). Nói rộng ra nữa, vậy DNNN “quy mô lớn” được đề cập trong đề án có được phép gồm cả những DNNN “đa sở hữu”?

Điểm liên quan nữa là cho dù Nhà nước có sở hữu đa số trong các tập đoàn kinh tế nhà nước thì về bản chất, chúng không phải là sở hữu nhà nước nữa nên không thể gọi là tập đoàn kinh tế nhà nước được, mà phải là cái gì đó đại loại như tập đoàn kinh tế (liên doanh, cổ phần). Do đó, các tập đoàn kinh tế này nói riêng và DNNN “quy mô lớn” đa sở hữu nói chung sẽ không còn/không nên được gọi là DNNN đúng nghĩa nữa. Mà như thế thì liệu chúng có nên chịu chế tài theo hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách về DNNN được đề cập đến trong đề án hay không?

3. Vì đã có sự đồng sở hữu bởi thành phần kinh tế tư nhân và nước ngoài nên tập đoàn kinh tế nhà nước đa sở hữu nếu cứ duy nhất theo định hướng sản xuất kinh doanh của Nhà nước, là định hướng thường không nhất thiết trùng hợp với định hướng của chủ sở hữu thuộc các thành phần khác, thì dễ dẫn đến khả năng mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước đa sở hữu sẽ không hấp dẫn được các nhà đầu tư phi Nhà nước. Nói cách khác, một khi đã (muốn) thành lập mô hình sở hữu đa thành phần trong các tập đoàn kinh tế thì cần phải để các tập đoàn kinh tế này vận hành theo nguyên lý thị trường, tức cũng có nghĩa là tính định hướng nhà nước với chúng, được thể hiện ở trên các khía cạnh như công cụ bình ổn kinh tế vĩ mô hoặc sẽ không còn nữa, hoặc nó sẽ trở thành nguyên nhân cho những xung đột pháp lý một khi cứ áp đặt ý chí của Nhà nước trong định hướng hoạt động của tập đoàn kinh tế “cổ phần” này.

Tóm lại, nếu các khái niệm, định nghĩa còn không được làm rõ ngay từ đầu thì mọi kế hoạch, đề án chắc chắn sẽ vấp phải tình trạng dò dẫm, lúng túng, mâu thuẫn, bất đồng, bất nhất trong việc xác định mục tiêu, thực thi, vận hành và tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện.

Cái cũ còn chưa rõ, sao phải làm cái mới?

Đề án nói trên có nhiệm vụ phát triển DNNN quy mô lớn và/gồm các tập đoàn kinh tế nhà nước đa sở hữu. Vì các DNNN quy mô lớn và tập đoàn kinh tế nhà nước đa sở hữu này chắc chắn gồm các tập đoàn kinh tế được thí điểm thành lập trong giai đoạn 2005-2009 nên việc phát triển DNNN quy mô lớn và/gồm các tập đoàn kinh tế nhà nước đa sở hữu cũng có nghĩa là (bao gồm việc) phát triển các tập đoàn kinh tế được thành lập thí điểm này.

Điểm mấu chốt ở đây là việc thí điểm thành lập 11 tập đoàn kinh tế nhà nước trước đây dường như chưa bao giờ được đánh giá và tổng kết một cách đầy đủ, tổng quát và chính thức. Tuy Thủ tướng Chính phủ có ban hành Quyết định 1428 năm 2012 về kết thúc thí điểm hình thành tập đoàn Công nghiệp xây dựng Việt Nam và tập đoàn Phát triển nhà và Đô thị Việt Nam (đây là hai trong số 11 tập đoàn kinh tế được thành lập thí điểm), nhưng việc này không có nghĩa là (mô hình) chín tập đoàn kinh tế nhà nước còn lại đã thành công, cần được tiếp tục phát triển và nhân rộng, hay khuôn khổ, cơ chế, chính sách pháp luật về các tập đoàn kinh tế nhà nước đã rõ ràng. Lưu ý thêm rằng tuy cũng đã có một vài đánh giá về những vấn đề này nhưng đó chỉ là những đánh giá mang tính cá nhân, và vẫn chỉ dừng lại ở mức rất chung chung, định tính.

Nêu những chi tiết như trên để chỉ ra những vấn đề bất ổn, bất hợp lý liên quan. Trong khi những vấn đề cơ bản về tập đoàn kinh tế nhà nước chưa được làm rõ (như thế nào là tập đoàn kinh tế nhà nước, nó có phải là một mô hình thành công, xứng đáng tồn tại và cần tiếp tục phát triển, nhân rộng hay không, và nếu là mô hình thành công thì đâu là những yếu kém hiện hữu cụ thể cần khắc phục của mô hình này...) thì việc tiếp tục xây dựng đề án này cho thấy hoặc tập đoàn kinh tế nhà nước được thành lập thí điểm trước đây không phải là/chẳng có gì chung với “DNNN quy mô lớn” và “tập đoàn kinh tế nhà nước đa sở hữu” được nêu trong định hướng xây dựng đề án; hoặc đơn giản hơn là đã quên mất sự hiện diện của 11 tập đoàn kinh tế nhà nước thí điểm này. Điều nào trong hai khả năng này cũng đều là không nên.

Và lại chồng chéo

Trong khi Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) được giao nhiệm vụ xây dựng đề án thì Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp (Ủy ban) cũng lại được giao nhiệm vụ xây dựng chiến lược tổng thể đầu tư phát triển doanh nghiệp thuộc sự quản lý của Ủy ban.

Câu hỏi được đặt ra ở đây là sự phân tách nhiệm vụ như trên có tạo ra sự chồng chéo, mâu thuẫn, dẫm chân lên nhau giữa Bộ KH&ĐT và Ủy ban hay không?

Như đã phân tích, DNNN quy mô lớn và tập đoàn kinh tế nhà nước đa sở hữu rất có thể là gồm các tập đoàn kinh tế nhà nước đã được bàn giao cho Ủy ban quản lý. Nếu để Bộ KH&ĐT xây dựng đề án phát triển (mà có lẽ sẽ phải gồm chiến lược tổng thể đầu tư, phát triển doanh nghiệp) cho các doanh nghiệp/tập đoàn kinh tế này thì sẽ dẫn đến khả năng đề án phát triển của Bộ KH&ĐT không tương thích, phù hợp với cái của Ủy ban. Ngược lại, Ủy ban hoạch định chiến lược phát triển cho các doanh nghiệp thuộc sự quản lý của mình cũng có khả năng sẽ mâu thuẫn với định hướng của Bộ KH&ĐT đối với các DNNN và tập đoàn kinh tế nhà nước nói chung.

Để khắc phục tình trạng trên thì buộc phải có thêm một yêu cầu nữa, đại loại là Bộ KH&ĐT/Ủy ban chủ trì phối hợp (với bên kia) xây dựng chiến lược đầu tư phát triển... Nhưng đến đây thì câu hỏi tiếp theo sẽ là vậy thì thành lập ra Ủy ban để làm gì? Chẳng phải là Ủy ban ra đời chỉ làm rối/khó thêm tình hình hay sao?

Phan Ngọc Minh

Tin bài khác
Đại biểu Quốc hội đề xuất siết quỹ đất nhà ở xã hội, kiểm soát giá chuyển nhượng

Đại biểu Quốc hội đề xuất siết quỹ đất nhà ở xã hội, kiểm soát giá chuyển nhượng

Tại phiên thảo luận chiều 28/10 về dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi), nhiều đại biểu Quốc hội đề nghị phát triển nhà ở sát nhu cầu, khả năng chi trả của người dân; đồng thời hoàn thiện cơ chế bố trí quỹ đất, giá thuê và chuyển nhượng nhà ở xã hội nhằm ngăn chặn trục lợi chính sách.
Bộ trưởng Bộ Xây dựng lý giải mức giá nhà ở xã hội gần 30 triệu đồng/m²

Bộ trưởng Bộ Xây dựng lý giải mức giá nhà ở xã hội gần 30 triệu đồng/m²

Giá nhà ở xã hội hiện dao động khoảng 15–29 triệu đồng/m², tùy địa phương và đặc điểm từng dự án. Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh cho biết, chi phí xây dựng, hạ tầng, vật liệu và lãi vay là những yếu tố tạo nên sự chênh lệch này.
Thủ tướng Lê Minh Hưng: Việt Nam chủ động thích ứng với kinh tế toàn cầu

Thủ tướng Lê Minh Hưng: Việt Nam chủ động thích ứng với kinh tế toàn cầu

Tại phiên đối thoại trực tiếp giữa Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng và ông Stephan Mergenthaler, Giám đốc điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026 ngày 28/10, Thủ tướng nhấn mạnh Việt Nam chủ động thích ứng với những chuyển dịch của kinh tế thế giới, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực tăng trưởng, đồng thời nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
WEF chỉ ra ba động lực tăng trưởng, doanh nghiệp Việt cần đổi cách cạnh tranh

WEF chỉ ra ba động lực tăng trưởng, doanh nghiệp Việt cần đổi cách cạnh tranh

WEF chỉ ra ba động lực tăng trưởng kinh tế toàn cầu gồm công nghệ, công nghiệp bền vững và kết nối quốc tế. Với doanh nghiệp Việt Nam, cơ hội nằm ở việc nâng năng suất, gia tăng giá trị sản phẩm và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, hiệu quả phụ thuộc vào năng lực thực thi và khả năng tiếp cận nguồn lực.
Bộ trưởng Bộ Công Thương: Không thể buộc người tiêu dùng chia sẻ dữ liệu cá nhân để dùng dịch vụ

Bộ trưởng Bộ Công Thương: Không thể buộc người tiêu dùng chia sẻ dữ liệu cá nhân để dùng dịch vụ

Tại phiên thảo luận ở Quốc hội sáng 28/10, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng cho biết dự thảo luật sửa đổi các quy định về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo hướng tăng quyền kiểm soát dữ liệu cá nhân, đồng thời làm rõ trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong giải quyết tranh chấp.
Thái Nguyên hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới công nghệ: Đưa chính sách vào năng lực cạnh tranh

Thái Nguyên hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới công nghệ: Đưa chính sách vào năng lực cạnh tranh

Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên ban hành Kế hoạch số 463/KH-UBND ngày 13/10/2026 về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới công nghệ giai đoạn 2026–2030. Chính sách hướng tới kết nối doanh nghiệp với chuyên gia, viện nghiên cứu, trường đại học và các đơn vị cung ứng công nghệ, tạo điều kiện để doanh nghiệp cải thiện quy trình sản xuất, quản trị và phát triển sản phẩm.
Thủ tướng Lê Minh Hưng đề xuất 4 hướng hợp tác chiến lược, thúc đẩy động lực tăng trưởng mới

Thủ tướng Lê Minh Hưng đề xuất 4 hướng hợp tác chiến lược, thúc đẩy động lực tăng trưởng mới

Tại Phiên toàn thể cấp cao Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đề xuất 4 hướng hợp tác trọng tâm với các đối tác quốc tế, từ phát triển hệ sinh thái nghiên cứu, đào tạo nhân lực công nghệ đến thử nghiệm công nghệ chiến lược và huy động nguồn vốn dài hạn.
Từ tài chính đến logistics, mở đường cho doanh nghiệp vươn ra thế giới

Từ tài chính đến logistics, mở đường cho doanh nghiệp vươn ra thế giới

TP. Hồ Chí Minh kết nối tăng trưởng thông qua tài chính quốc tế, khu thương mại tự do, logistics và đổi mới sáng tạo. Thông điệp tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026 đặt ra cơ hội thu hút vốn, công nghệ, mở rộng thị trường cho doanh nghiệp, cùng yêu cầu tháo gỡ điểm nghẽn hạ tầng và quản trị.
Địa phương còn hơn 17.243 tỷ đồng kinh phí khoa học, công nghệ chưa giải ngân

Địa phương còn hơn 17.243 tỷ đồng kinh phí khoa học, công nghệ chưa giải ngân

Đến ngày 26/10/2026, các địa phương mới giải ngân 38,49% tổng dự toán kinh phí dành cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tương đương hơn 10.789 tỷ đồng. Bộ Khoa học và Công nghệ yêu cầu khẩn trương tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ, đồng thời siết chặt trách nhiệm về hiệu quả và sản phẩm đầu ra.
Quảng Trị tăng cường thúc đẩy hợp tác Việt Nam – EU về chuyển đổi năng lượng bền vững

Quảng Trị tăng cường thúc đẩy hợp tác Việt Nam – EU về chuyển đổi năng lượng bền vững

Quảng Trị tăng cường phối hợp với Bộ Công Thương và Liên minh châu Âu nhằm thúc đẩy chuyển đổi năng lượng bền vững, phát triển năng lượng tái tạo và mở rộng khả năng tiếp cận điện lưới tại khu vực nông thôn, miền núi.
Quy hoạch khoáng sản hướng đến nâng cao hiệu quả khai thác

Quy hoạch khoáng sản hướng đến nâng cao hiệu quả khai thác

Hồ sơ điều chỉnh Quy hoạch khoáng sản nhóm I thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Hội đồng thẩm định thống nhất thông qua, kèm yêu cầu tiếp tục hoàn thiện trước khi trình Thủ tướng Chính phủ. Trọng tâm là xử lý các khu vực chồng lấn với dân cư, hạ tầng và dự án đầu tư, đồng thời gắn khai thác với chế biến sâu để nâng cao giá trị tài nguyên.
Năng lượng sạch là trụ cột chiến lược trong mô hình tăng trưởng kinh tế

Năng lượng sạch là trụ cột chiến lược trong mô hình tăng trưởng kinh tế

Phát triển năng lượng sạch đang chuyển mình mạnh mẽ từ một lĩnh vực kỹ thuật đơn thuần trở thành một trong những trụ cột chiến lược quan trọng hàng đầu của nền kinh tế Việt Nam.
Điều phối nguồn cung vật liệu liên tỉnh, bảo đảm tiến độ các dự án trọng điểm quốc gia

Điều phối nguồn cung vật liệu liên tỉnh, bảo đảm tiến độ các dự án trọng điểm quốc gia

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc yêu cầu các địa phương liên quan bảo đảm nguồn cung vật liệu xây dựng thông thường, phối hợp điều phối giữa các tỉnh, thành phố để đáp ứng nhu cầu thi công các công trình, dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia. Các bộ, ngành được giao đôn đốc thực hiện và hoàn thiện quy định liên quan trong tháng 11/2026.
Chính phủ xem xét giảm giá điện, đưa thuế tiêu thụ đặc biệt với xăng về 0%

Chính phủ xem xét giảm giá điện, đưa thuế tiêu thụ đặc biệt với xăng về 0%

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu khẩn trương xây dựng phương án giảm giá điện bình quân, đồng thời rà soát tính khả thi của việc đưa thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng về 0%, dự kiến áp dụng từ ngày 1/11/2026 đến hết tháng 3/2027.
Nông nghiệp trước yêu cầu chuyển hóa nghiên cứu thành giá trị thực tiễn

Nông nghiệp trước yêu cầu chuyển hóa nghiên cứu thành giá trị thực tiễn

Hơn 76% sản phẩm khoa học, công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp vẫn dừng ở giai đoạn nghiên cứu, trong khi liên kết giữa nhà khoa học và doanh nghiệp còn hạn chế. Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, tài chính, dữ liệu và liên kết chuỗi giá trị, đẩy nhanh ứng dụng, thương mại hóa kết quả nghiên cứu, tạo động lực tăng trưởng bền vững cho ngành nông nghiệp.