Việt Nam đang đặt mục tiêu chuyển kinh tế biển từ khai thác lợi thế sang tạo dựng một hệ sinh thái kinh tế hiện đại, xanh và thông minh. Không gian phát triển được mở rộng từ cảng biển, logistics, dầu khí, thủy sản, du lịch đến năng lượng ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, hydrogen, amoniac xanh và công nghệ sinh học biển.
![]() |
| Việc phát triển kinh tế biển, đặc biệt là trong bối cảnh gắn với đảm bảo quốc phòng an ninh, luôn được Đảng ta quan tâm, chỉ đạo xuyên suốt, ngày càng mở rộng về số lượng và chất lượng. |
Đây là hướng đi được Chính phủ đặt ra trong Nghị quyết số 218/NQ-CP ngày 7/8/2026 về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
Chương trình xác định giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045 là thời kỳ cần tạo những chuyển biến có tính đột phá trong phát triển kinh tế biển, đồng thời nâng cao năng lực khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, bảo vệ môi trường và đời sống người dân vùng biển, đảo.
Mở không gian cho kinh tế biển
Một trong những thay đổi quan trọng được đặt ra là đổi mới quy hoạch không gian biển quốc gia và hoàn thiện hệ thống pháp luật để tạo dư địa cho các hoạt động đầu tư, khai thác biển.
Chính phủ yêu cầu rà soát, sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật về biển, hải đảo và các lĩnh vực liên quan như đất đai, tài nguyên, môi trường, khoa học, công nghệ, bảo đảm đồng bộ, minh bạch, ổn định và có sức cạnh tranh quốc tế.
Hồ sơ dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) sẽ được hoàn thiện theo hướng quy định rõ cơ chế giao, cho thuê, sử dụng, khai thác không gian biển; nghĩa vụ tài chính; bảo vệ tài nguyên, môi trường và xử lý xung đột trong sử dụng biển.
Cùng với đó, Quy hoạch không gian biển quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 sẽ được rà soát, cập nhật, điều chỉnh. Nhà nước cũng đặt mục tiêu xây dựng bản đồ số và cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý, giám sát việc thực hiện quy hoạch.
Với doanh nghiệp, đây là phần nền tảng quan trọng bởi một không gian đầu tư lớn chỉ có thể được khai thác hiệu quả khi quyền sử dụng, cơ chế giao và cho thuê không gian biển, nghĩa vụ tài chính và các quy định môi trường được xác định rõ.
Hàng hải, cảng biển và logistics hướng tới xanh, thông minh
Trong hệ sinh thái kinh tế biển mới, kinh tế hàng hải được xác định là một trụ cột quan trọng.
Chính phủ yêu cầu phát triển hệ thống cảng biển xanh, thông minh, đội tàu vận tải biển, công nghiệp đóng tàu, sửa chữa tàu biển và dịch vụ logistics hàng hải.
![]() |
| Việt Nam cần hình thành các doanh nghiệp dịch vụ logistics đầu tàu, ứng dụng các công nghệ mới trong logistics, hoàn thiện các chính sách hỗ trợ phát triển dịch vụ logistics… Trong đó, cần phải tập trung thu hút đầu tư tư nhân, đầu nước ngoài vào phát triển hạ tầng giao thông đường bộ, đường sắt, cảng biển... |
Một yêu cầu đáng chú ý là tăng khả năng kết nối cảng biển với đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và hàng không. Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 cũng được yêu cầu rà soát, điều chỉnh.
Song song với đó là xây dựng và triển khai Chương trình Quốc gia về công nghiệp hàng hải và cơ khí biển.
Nếu được triển khai đồng bộ, hướng đi này không chỉ mở rộng năng lực vận tải biển mà còn tạo thêm thị trường cho doanh nghiệp trong các lĩnh vực đóng tàu, cơ khí, thiết bị, logistics và dịch vụ kỹ thuật.
Từ khai thác ven bờ sang nuôi biển công nghệ cao
Ngành thủy sản cũng được định hướng tái cơ cấu theo hướng giảm khai thác ven bờ, tăng khai thác xa bờ có trách nhiệm và phát triển nuôi biển công nghiệp, công nghệ cao.
Chính phủ yêu cầu đồng thời phát triển hạ tầng, giống, bảo quản, chế biến, bảo hiểm thủy sản và chính sách hỗ trợ ngư dân.
Cùng với đó là tiếp tục tháo gỡ khó khăn trong phòng, chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), hướng tới sớm gỡ cảnh báo “thẻ vàng” của Ủy ban châu Âu (EC).
Định hướng mới không dừng ở khai thác và nuôi trồng truyền thống. Chính phủ yêu cầu nghiên cứu, ứng dụng công nghệ nuôi biển hiện đại, từng bước hình thành hệ thống lồng nuôi thông minh, phương tiện và thiết bị phục vụ nuôi biển, ứng dụng công nghệ số, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo và năng lượng tái tạo.
Đây là một trong những khu vực có khả năng mở ra chuỗi giá trị mới cho doanh nghiệp, từ công nghệ, thiết bị, giống, dịch vụ kỹ thuật đến chế biến và logistics thủy sản.
Năng lượng ngoài khơi và những ngành kinh tế biển mới
Không gian phát triển mới còn được mở rộng sang các lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao.
![]() |
| Mục tiêu đến năm 2030, nghề nuôi biển Việt Nam sẽ đạt sản lượng 1,45 triệu tấn, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 1,8 đến 2 tỷ USD. |
Chính phủ yêu cầu hoàn thiện cơ chế, chính sách đặc thù đối với các dự án vùng nước sâu, xa bờ, mỏ cận biên và các dự án năng lượng ngoài khơi.
Cùng với dầu khí và dịch vụ kỹ thuật dầu khí, chương trình hành động đặt vấn đề phát triển các ngành kinh tế biển mới như dược liệu biển, công nghệ sinh học biển, khử mặn nước biển, điện sóng, hydrogen, amoniac xanh và hạ tầng cáp ngầm biển.
Đây là nhóm lĩnh vực có yêu cầu đầu tư lớn, công nghệ cao và cần sự tham gia của những doanh nghiệp có năng lực tài chính, quản trị và nghiên cứu phát triển.
Du lịch biển hướng tới thị trường quốc tế
Du lịch và dịch vụ biển cũng được định hướng phát triển theo chiều sâu thay vì chỉ gia tăng lượng khách.
Chính phủ đặt mục tiêu phát triển du lịch, dịch vụ biển có thương hiệu quốc tế; hình thành các trung tâm, cụm du lịch biển quy mô lớn và đa dạng hóa sản phẩm theo hướng du lịch xanh, du lịch tàu biển, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, kinh tế đêm và lễ hội biển.
Điều này tạo dư địa để các địa phương ven biển và doanh nghiệp dịch chuyển từ khai thác tài nguyên đơn thuần sang xây dựng sản phẩm có thương hiệu, giá trị gia tăng cao và khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Từ lợi thế biển thành năng lực cạnh tranh quốc gia
Để thực hiện mục tiêu quốc gia biển mạnh, Chính phủ xác định 9 nhóm nhiệm vụ, từ đổi mới tư duy và quản trị biển, hoàn thiện thể chế, huy động nguồn lực, phát triển doanh nghiệp biển, khoa học công nghệ, hạ tầng, bảo vệ môi trường đến xây dựng văn hóa biển, bảo đảm quốc phòng, an ninh và tăng cường hợp tác quốc tế.
Trong đó, phát triển mạnh doanh nghiệp biển, nhất là các tập đoàn, tổng công ty quy mô lớn, được đặt thành một nhiệm vụ riêng.
Điều này cho thấy doanh nghiệp được xem là một chủ thể trực tiếp trong quá trình hình thành năng lực kinh tế biển, thay vì chỉ là đối tượng thực hiện chính sách.
Mục tiêu cuối cùng của chương trình không chỉ là tăng tỷ trọng đóng góp của các địa phương ven biển. Việt Nam hướng tới một hệ sinh thái biển có hạ tầng đồng bộ, ngành kinh tế hiện đại, công nghệ cao, phát thải thấp và khả năng cạnh tranh quốc tế.
Từ không gian biển, hạ tầng và thể chế đến doanh nghiệp, công nghệ và những ngành kinh tế mới, Chương trình hành động của Chính phủ đang mở một hướng phát triển dài hạn cho kinh tế biển Việt Nam. Nếu các cơ chế được cụ thể hóa kịp thời, biển không chỉ là lợi thế tự nhiên mà có thể trở thành một không gian tăng trưởng mới của nền kinh tế trong những thập niên tới.