| Bài liên quan |
| Kinh tế biển Việt Nam đứng trước không gian phát triển mới |
| Quy hoạch hai đô thị ven biển, mở hướng du lịch, kinh tế biển cho Cà Mau |
Sáng 22/9, tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH), các đại biểu cho ý kiến về dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi). Một trong những vấn đề được đặt ra là làm thế nào để hoàn thiện cơ chế quản lý, sử dụng khu vực biển theo hướng vừa tạo dư địa phát triển kinh tế, vừa kiểm soát chặt các rủi ro về môi trường, quốc phòng và an ninh.
Phát biểu tại phiên họp, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cho rằng nguồn thu ngân sách từ các hoạt động kinh tế biển thời gian qua còn khiêm tốn so với tiềm năng. Theo Chủ tịch Quốc hội, một trong những vấn đề cần được nghiên cứu khi sửa luật là mức độ pháp lý hóa quyền sử dụng biển, qua đó tạo điều kiện để doanh nghiệp có thể huy động các nguồn lực cho những dự án quy mô lớn.
Các lĩnh vực được đặt ra gồm điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, phát triển hạ tầng và một số công trình có tính chất đặc thù.
![]() |
| Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn |
Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh, dự thảo luật cần tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, minh bạch để khơi thông nguồn lực cho kinh tế biển, nhưng đồng thời phải tuân thủ nghiêm các yêu cầu về quốc phòng, an ninh và bảo vệ hệ sinh thái biển.
Theo định hướng được nêu tại phiên họp, việc sửa đổi luật cần được tiếp cận trên bốn trụ cột gồm pháp lý, quản trị, kinh tế biển và môi trường. Đây cũng là những vấn đề có tác động trực tiếp tới khả năng tiếp cận không gian biển, triển khai dự án và tính ổn định của môi trường đầu tư trong lĩnh vực kinh tế biển.
Đáng chú ý, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn lưu ý yêu cầu bảo đảm sinh kế cho cộng đồng dân cư ven biển, đồng thời cần quy định rõ vị trí pháp lý và quyền tiếp cận biển của người dân.
Một nội dung nhận được nhiều ý kiến là cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong trường hợp Nhà nước thu hồi khu vực biển đang được sử dụng hợp pháp.
Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng cho rằng các quy định về bồi thường tại Điều 38 và Điều 39 của dự thảo hiện chưa bao quát đầy đủ các khoản chi phí đầu tư hợp pháp, chi phí di dời công trình và những thiệt hại trực tiếp mà doanh nghiệp có thể phải gánh chịu.
Từ đó, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng đề nghị làm rõ nguyên tắc và phạm vi bồi thường; đồng thời nghiên cứu quy định về phương án bồi thường, hỗ trợ và nguồn kinh phí thực hiện phải được phê duyệt trước khi ban hành quyết định thu hồi.
Theo ý kiến này, việc quy định rõ trình tự và nguồn lực thực hiện không chỉ bảo đảm quyền lợi của nhà đầu tư mà còn hạn chế nguy cơ phát sinh vướng mắc, khiếu kiện trong quá trình tổ chức thực hiện.
Đồng tình với hướng tiếp cận này, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại Lê Tấn Tới cho rằng dự thảo còn có điểm chưa thống nhất giữa quy định về các trường hợp thu hồi khu vực biển và quy định về bồi thường.
Theo ông Lê Tấn Tới, dự thảo cho phép thu hồi khu vực biển trong trường hợp phục vụ yêu cầu quốc phòng, an ninh, đối ngoại, nhưng quy định về bồi thường chưa bao quát trường hợp này. Điều này cần được rà soát để bảo đảm quyền lợi của nhà đầu tư đang sử dụng khu vực biển hợp pháp và không có lỗi.
Việc hoàn thiện cơ chế bồi thường vì vậy không chỉ là câu chuyện về chi phí, mà còn liên quan trực tiếp tới mức độ ổn định và khả năng dự báo của môi trường đầu tư đối với các dự án có vốn lớn, thời gian hoàn vốn dài.
![]() |
| Hoàn thiện khung pháp lý, khơi thông nguồn lực cho kinh tế biển |
Ở góc độ quản trị, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi lưu ý các hoạt động khai thác, sử dụng không gian biển có tính chất tích hợp cao, đòi hỏi phải đồng thời xem xét mục tiêu phát triển kinh tế với yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường.
Vì vậy, ông Phan Văn Mãi đề nghị không đặt đấu giá là phương thức chủ đạo trong giao quyền sử dụng khu vực biển, mà cần nghiên cứu các phương thức phù hợp với tính chất, mục tiêu và đặc điểm của từng loại dự án, trong đó có đấu thầu và quản lý theo mục tiêu.
Cách tiếp cận này đặt ra yêu cầu phân loại rõ các trường hợp giao quyền sử dụng khu vực biển, tránh áp dụng một cơ chế chung cho những hoạt động có tính chất và mức độ tác động khác nhau.
Cùng với đó, Chủ nhiệm Lê Tấn Tới đề nghị dự thảo luật làm rõ cơ chế phối hợp đối với các dự án có phạm vi liên quan từ hai địa phương trở lên hoặc những vùng biển chưa xác định rõ ranh giới hành chính.
Theo ông, việc phân định trách nhiệm, trao đổi thông tin và phối hợp quản lý cần được quy định cụ thể, nhất là trong kiểm tra, giám sát và xử lý các vấn đề về môi trường. Đây là cơ sở hạn chế tình trạng chồng lấn hoặc khoảng trống trong quản lý khi dự án có phạm vi hoạt động liên địa bàn.
Những ý kiến tại phiên họp cho thấy yêu cầu đặt ra với dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) không chỉ dừng ở việc hoàn thiện các quy định về quản lý tài nguyên.
Với doanh nghiệp, một khung pháp lý rõ ràng về quyền sử dụng khu vực biển, phương thức giao quyền, cơ chế bồi thường khi Nhà nước thu hồi và trách nhiệm của các cơ quan quản lý có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng tính toán chi phí, rủi ro và hiệu quả đầu tư.
Trong khi đó, đối với Nhà nước, việc mở rộng không gian phát triển kinh tế biển phải đi cùng với kiểm soát khai thác tài nguyên, bảo vệ hệ sinh thái, bảo đảm quốc phòng, an ninh và duy trì sinh kế của cộng đồng ven biển.
Do đó, yêu cầu xuyên suốt được đặt ra là xây dựng một hành lang pháp lý đủ rõ để biển trở thành nguồn lực cho phát triển, nhưng không làm suy giảm các giá trị sinh thái, lợi ích cộng đồng và các yêu cầu chiến lược về quốc phòng, an ninh.
Việc tiếp tục rà soát các quy định về giao quyền sử dụng khu vực biển, bồi thường, hỗ trợ, quản trị liên địa phương và trách nhiệm bảo vệ môi trường sẽ là những nội dung quan trọng trong quá trình hoàn thiện dự thảo luật trước khi trình Quốc hội xem xét.