Hồ tiêu Việt Nam duy trì vị thế trên thị trường quốc tế
Việt Nam hiện là một trong những quốc gia sản xuất và xuất khẩu hồ tiêu hàng đầu thế giới. Sản phẩm hồ tiêu Việt Nam đã có mặt tại hơn 120 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Thông tin tại hội thảo khởi động Diễn đàn ngành hàng nông nghiệp tỉnh Lâm Đồng mới đây, bà Hoàng Thị Liên, Chủ tịch Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA), cho biết sản lượng hồ tiêu trong nước đạt bình quân khoảng 175.000-180.000 tấn/năm. Tổng lượng xuất khẩu đạt khoảng 230.000-250.000 tấn/năm, trong đó có một phần nguyên liệu nhập khẩu phục vụ chế biến và tái xuất. Mỗi năm, Việt Nam nhập khẩu khoảng 20.000-25.000 tấn hồ tiêu cho mục đích này.
Trong 8 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 190.153 tấn hồ tiêu, tăng 14,2% so với cùng kỳ năm 2025. Châu Á là thị trường tiêu thụ lớn nhất với 88.441 tấn, chiếm 46,5% tổng lượng xuất khẩu. Tiếp đến là châu Mỹ với 49.830 tấn, châu Âu 40.892 tấn và châu Phi gần 11.000 tấn.
![]() |
| Hoa Kỳ và Trung Quốc là hai thị trường nhập khẩu hồ tiêu lớn nhất của Việt Nam - Ảnh: VPSA |
Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường nhập khẩu hồ tiêu lớn nhất của Việt Nam với 44.349 tấn. Trung Quốc đứng thứ hai với 20.495 tấn, tăng so với mức 13.282 tấn cùng kỳ năm 2025. Các thị trường chủ lực khác gồm UAE, Ấn Độ, Thái Lan, Đức, Hà Lan, Philippines, Ai Cập và Hồng Kông. Kết quả này cho thấy hồ tiêu Việt Nam tiếp tục duy trì vị thế tại nhiều thị trường quốc tế. Tuy nhiên, ngành hàng vẫn đối mặt với những điểm nghẽn trong sản xuất, thu mua và kiểm soát chất lượng.
Theo bà Hoàng Thị Liên, một trong những thách thức lớn hiện nay là chất lượng sản phẩm. Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, tình trạng trồng xen gây nhiễm chéo và tác động của biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng hạt tiêu. Sự thiếu gắn kết giữa các hộ sản xuất cũng gây khó khăn cho việc kiểm soát đồng bộ quy trình canh tác.
Hoạt động sản xuất hiện chủ yếu do các nông hộ và hợp tác xã quy mô nhỏ đảm nhiệm, chiếm trên 80%. Quy mô phân tán khiến việc kiểm soát chất lượng, phòng chống dịch bệnh và tổ chức sản xuất theo tiêu chuẩn gặp nhiều trở ngại.
Trong khi đó, quá trình chuyển đổi sang canh tác hữu cơ và các tiêu chuẩn bền vững như SRP, RA, GAP còn chậm, chưa đồng đều giữa các vùng. Ở khâu thu mua, thương lái và đại lý trung gian vẫn giữ vai trò chủ đạo. Chuỗi cung ứng qua nhiều tầng nấc có thể làm tăng chi phí logistics, đồng thời gây khó khăn cho truy xuất nguồn gốc và minh bạch thông tin sản phẩm.
Tăng liên kết, chế biến sâu và xây dựng thương hiệu
Nhiều doanh nghiệp đã đầu tư chế biến tiêu trắng, tiêu bột, tiêu ngâm muối và các sản phẩm giá trị gia tăng. Tuy nhiên, tỷ trọng xuất khẩu tiêu thô vẫn còn cao, trong khi các thị trường như EU, Hoa Kỳ và Trung Quốc ngày càng nâng yêu cầu về an toàn thực phẩm, dư lượng hóa chất và phát triển bền vững.
Việc hoàn thiện thủ tục cấp giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) và xây dựng thương hiệu quốc gia cũng là những vấn đề cần được quan tâm nhằm nâng cao sức cạnh tranh của hồ tiêu Việt Nam.
![]() |
| Hồ tiêu Việt Nam đẩy mạnh liên kết, chế biến sâu và xây dựng thương hiệu |
Theo VPSA, mối liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân chưa thực sự bền chặt. Hoạt động mua bán vẫn chủ yếu dựa trên giá thị trường từng thời điểm, trong khi các hợp đồng dài hạn nhằm chia sẻ lợi ích, rủi ro và kiểm soát quy trình sản xuất còn hạn chế.
Để tháo gỡ khó khăn, VPSA đề xuất rà soát, phát triển vùng nguyên liệu; chuẩn hóa dữ liệu cây trồng; cập nhật thông tin về các mô hình liên kết và thúc đẩy kinh tế hợp tác. Doanh nghiệp cần xây dựng hợp đồng minh bạch, có cam kết về giá, đầu ra và quy trình sản xuất nhằm tạo niềm tin cho nông dân.
Cùng với đó, ngành hồ tiêu cần kiểm soát chặt vật tư đầu vào, hạn chế nguy cơ nhiễm chéo trong mô hình trồng xen, tăng cường quản lý hoạt động phun thuốc, từng bước nghiên cứu ứng dụng thiết bị bay không người lái và mở rộng tập huấn canh tác bền vững.
Bà Hoàng Thị Liên cho rằng ngành hồ tiêu cần xây dựng thương hiệu quốc gia dựa trên chất lượng, câu chuyện sản phẩm và trải nghiệm khách hàng. Việc tuân thủ quy định về dư lượng tối đa, mở rộng chứng nhận hữu cơ, phát triển hệ thống truy xuất nguồn gốc, quảng bá thương hiệu trên nền tảng số và thúc đẩy du lịch nông nghiệp sẽ góp phần nâng cao hình ảnh hồ tiêu Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Doanh nghiệp cũng cần đẩy mạnh chế biến sâu, phát triển gia vị phối trộn, sản phẩm chiết xuất và thực phẩm tiện lợi; đồng thời mở rộng năng lực OEM, ODM để nâng tỷ trọng sản phẩm có giá trị gia tăng, từng bước hạn chế xuất khẩu nguyên liệu thô.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, việc chuyển từ mô hình độc canh sang hệ thống nông lâm kết hợp được kỳ vọng giúp vùng nguyên liệu tăng khả năng thích ứng, nâng cao tính bền vững và bảo đảm sự phát triển lâu dài của ngành hồ tiêu Việt Nam.