| Bài liên quan |
| Nhà đầu tư nước ngoài dễ dàng giao dịch chứng khoán Việt Nam |
| Nhà đầu tư nước ngoài đề xuất loạt giải pháp để Việt Nam hút dòng vốn FDI chất lượng cao |
Bộ Tài chính đang lấy ý kiến đối với dự thảo lần 2 Luật Đầu tư (sửa đổi), trong đó đề xuất đáng chú ý là điều chỉnh điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài theo hướng giảm rào cản, chi phí tuân thủ nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước.
Đề xuất này nhận được nhiều ý kiến góp ý từ các bộ, ngành và cộng đồng doanh nghiệp, trong đó có đề nghị cân nhắc quy định cho phép nhà đầu tư nước ngoài sở hữu tối đa 100% vốn điều lệ tại một số ngành, nghề.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho rằng việc cho phép sở hữu 100% tại các lĩnh vực như dịch vụ tài chính, kế toán, kiểm toán, đại lý lữ hành... có thể làm gia tăng quy mô dòng vốn nước ngoài vào - ra, đồng thời khiến dòng vốn nhạy cảm hơn với biến động của lãi suất và tỷ giá toàn cầu, qua đó tiềm ẩn nguy cơ đảo chiều dòng vốn.
![]() |
| Đề xuất nới điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài: Bộ Tài chính bổ sung các “lớp ràng buộc” |
Giải trình vấn đề này, Bộ Tài chính cho biết trong 91 ngành, phân ngành tiếp cận thị trường có điều kiện, có 10 ngành chỉ quy định điều kiện thành lập liên doanh nhưng không hạn chế tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài. Trên thực tế, nhà đầu tư nước ngoài đã có thể sở hữu tới 99,9% vốn điều lệ tại các ngành này.
Do đó, theo Bộ Tài chính, việc bỏ điều kiện về hình thức liên doanh về cơ bản không làm thay đổi thực chất quy mô dòng vốn nước ngoài vào các ngành, mà chủ yếu nhằm cắt giảm rào cản tiếp cận thị trường và chi phí tuân thủ.
Nội dung này được đặt trong yêu cầu thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW và Quyết định số 2014/QĐ-TTg ngày 12/9/2026 của Thủ tướng Chính phủ.
Sau tiếp thu, chỉnh lý, khoản 3a Điều 8 dự thảo Luật Đầu tư (sửa đổi) được thiết kế theo nguyên tắc Chính phủ căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội và yêu cầu quản lý nhà nước trong từng thời kỳ để xem xét, quyết định việc nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường trong các ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài.
Việc nới lỏng phải bảo đảm công khai, minh bạch, áp dụng thống nhất và không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư.
Đáng chú ý, so với dự thảo lần 1, Bộ Tài chính đã bỏ quy định về “tỷ lệ sở hữu 100%” của nhà đầu tư nước ngoài. Cách tiếp cận mới không đặt trọng tâm vào một tỷ lệ sở hữu cụ thể mà trao dư địa để Chính phủ xem xét nới lỏng điều kiện theo từng ngành, nghề, trên cơ sở yêu cầu quản lý và điều kiện phát triển trong từng thời kỳ.
Đối với các ngành, nghề thuộc lĩnh vực tài chính, ngân hàng, Bộ Tài chính khẳng định việc xem xét nới lỏng, nếu có, phải lấy ý kiến Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với tư cách cơ quan quản lý ngành và được đánh giá đầy đủ tác động, trong đó có tác động đến quy mô, cơ cấu dòng vốn và an toàn hệ thống.
Bộ Tài chính đề nghị Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phối hợp trong quá trình xây dựng nghị định quy định chi tiết.
Trong quá trình góp ý, Bộ Công Thương đề nghị bổ sung nguyên tắc, tiêu chí cụ thể nhằm hạn chế nguy cơ áp dụng tùy nghi.
Hiệp hội Doanh nghiệp Đầu tư nước ngoài (VAFIE) cũng đề nghị quy định rõ việc Chính phủ chỉ quyết định nới lỏng trên cơ sở danh mục ngành, nghề và bộ tiêu chí được công bố. Quyết định cần xác định rõ căn cứ, phạm vi, thời hạn, điều kiện; đồng thời được đăng tải trên Cổng thông tin quốc gia về đầu tư và rà soát định kỳ, qua đó vừa mở cửa có chọn lọc, vừa hạn chế cơ chế “xin - cho”.
Theo Bộ Tài chính, sau khi chỉnh lý, khoản 3a Điều 8 dự thảo đã bỏ các khái niệm “dự án đầu tư chiến lược, có tác động lớn đến phát triển kinh tế - xã hội” và “các dự án khác”.
Thay vào đó, việc nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường được xác định theo ngành, nghề, không phụ thuộc vào việc một dự án có được xác định là dự án chiến lược hay không.
Bộ Tài chính cho rằng dự thảo sau chỉnh lý đã thiết lập nhiều lớp ràng buộc nhằm loại trừ nguy cơ áp dụng tùy nghi.
Về căn cứ, việc nới lỏng phải dựa trên điều kiện kinh tế - xã hội và yêu cầu quản lý nhà nước trong từng thời kỳ.
Về nguyên tắc, chính sách phải bảo đảm công khai, minh bạch, áp dụng thống nhất và không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư.
Về giới hạn, cơ chế mới chỉ cho phép nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường, không đặt thêm các hạn chế mới.
Về hình thức, việc nới lỏng phải được thể hiện bằng văn bản quy phạm pháp luật, xác định theo ngành, nghề và áp dụng chung, thay vì quyết định riêng cho từng dự án hoặc từng nhà đầu tư.
Bộ Tài chính cũng nhấn mạnh, mỗi văn bản về nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường phải được ban hành theo đúng trình tự, thủ tục của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; đồng thời phải đánh giá tác động chính sách, lấy ý kiến Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và bộ quản lý ngành, trước khi được đăng Công báo và cập nhật trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật.
Đối với đề nghị quy định cụ thể căn cứ, phạm vi, thời hạn, điều kiện của từng quyết định nới lỏng, đồng thời công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đầu tư và rà soát định kỳ, Bộ Tài chính cho biết đã tiếp thu về nguyên tắc và sẽ thể hiện trong nghị định quy định chi tiết.
Hiện hồ sơ dự thảo Luật Đầu tư (sửa đổi) đã được chuyển Bộ Tư pháp để thẩm định.