Việt Nam nhiều năm nằm trong nhóm quốc gia có sản lượng cà phê Robusta lớn nhất thế giới, chiếm khoảng 40% nguồn cung toàn cầu. Cây cà phê cũng là sinh kế của hàng trăm nghìn nông hộ, đặc biệt tại khu vực Tây Nguyên. Theo Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam, số liệu năm 2023 cho thấy diện tích cà phê cả nước đạt trên 720.000 ha, trong đó khoảng 95% là Robusta. Niên vụ 2024 - 2025, Việt Nam xuất khẩu trên 1,5 triệu tấn cà phê, đạt kim ngạch hơn 8,4 tỷ USD.
![]() |
| Cà phê Robusta Việt Nam: Từ lợi thế sản lượng đến nâng giá trị |
Quy mô sản xuất lớn giúp Việt Nam có lợi thế về nguồn cung, năng suất, hệ thống thu mua và khả năng đáp ứng các đơn hàng quy mô lớn. Tuy nhiên, để chuyển lợi thế sản lượng thành giá trị cao hơn, chất lượng hạt cà phê cần được nhận diện và phân hóa rõ hơn.
Hiện chất lượng giữa các vườn và từng lô nguyên liệu chưa đồng đều. Nhiều cấp chất lượng vẫn được thu mua chung, khiến những lô cà phê có chất lượng tốt chưa được nhận diện và trả giá tương xứng. Bên cạnh đó, hiệu quả sản xuất ở nhiều nơi vẫn được nhìn chủ yếu qua sản lượng, trong khi các yếu tố như chi phí đầu vào, tỷ lệ nhân thu hồi, tỷ lệ hạt đạt yêu cầu và sức khỏe vườn cây trong dài hạn chưa được tính toán đầy đủ.
Một điểm nghẽn khác nằm ở hệ thống phân hạng. Các tiêu chuẩn chất lượng chưa đủ thống nhất để người trồng, hợp tác xã, thương lái, nhà máy và người mua cùng sử dụng. Khi chưa có chung một “ngôn ngữ chất lượng”, việc phân biệt và định giá từng nhóm nguyên liệu cũng gặp khó khăn.
Báo cáo “Ngành cà phê Việt Nam: Thực trạng và một số khía cạnh chính sách” cho thấy hơn 70% nông hộ sử dụng phân bón vượt mức cần thiết. Điều này có thể làm tăng chi phí sản xuất, gây suy thoái đất, mất cân bằng dinh dưỡng và gia tăng nguy cơ sâu bệnh. Khâu thu hoạch cũng tác động trực tiếp đến chất lượng Robusta. Thí nghiệm của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên cho thấy, hái quả xanh đầu vụ làm hao hụt 22,74% khối lượng nhân so với hái quả chín. Đồng thời, tỷ lệ hạt lỗi tăng, làm giảm chất lượng nguyên liệu và cơ hội tham gia các chương trình thu mua Robusta chất lượng cao.
Những hạn chế này cho thấy dư địa nâng giá trị cà phê Việt Nam còn lớn. Thay vì chỉ tập trung tăng sản lượng, chuỗi cà phê cần chú trọng hơn đến chất lượng ngay từ vùng nguyên liệu.
Thông tin tại hội thảo “Nâng chất Robusta Việt từ gốc” diễn ra tại Lâm Đồng, ông Thái Như Hiệp, Phó Chủ tịch Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam, cho rằng điểm nghẽn của Robusta Việt Nam không nằm ở việc thiếu hạt tốt, mà ở khả năng tổ chức sự khác biệt về chất lượng thành những dòng nguyên liệu rõ ràng, ổn định và có giá trị thương mại tương xứng.
Theo Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam, quá trình nâng chất Robusta cần tập trung vào 4 yêu cầu tái cấu trúc. Thứ nhất, tổ chức vùng nguyên liệu theo mục đích sử dụng và cấp chất lượng. Không nên áp dụng một quy trình giống nhau cho tất cả sản phẩm. Nguyên liệu phục vụ rang xay, cà phê hòa tan, chiết xuất hay phối trộn có những yêu cầu khác nhau.
Do đó, từng vùng cần xác định rõ giống, quy trình canh tác, độ chín, phương pháp sơ chế, quy cách đầu ra và đơn vị tiếp nhận. Mục tiêu không phải đưa toàn bộ sản lượng lên một cấp chất lượng mà bảo đảm từng lô nguyên liệu phù hợp với mục đích sử dụng.
![]() |
| Tái cấu trúc vùng nguyên liệu, phân hạng và thu mua theo chất lượng được kỳ vọng giúp nâng giá trị hạt cà phê Robusta Việt Nam. |
Thứ hai, xây dựng hệ thống phân hạng nhân xanh dựa trên các chỉ tiêu có thể đo lường và sử dụng thống nhất trong chuỗi. Hệ thống này cần tính đến đặc điểm vật lý, tỷ lệ khuyết tật, độ đồng đều, đặc tính cảm quan, an toàn thực phẩm, khả năng truy xuất và mức độ phù hợp với mục đích sử dụng. Khi cùng sử dụng một hệ thống tiêu chuẩn, người sản xuất có thể biết cần cải thiện khâu nào, doanh nghiệp xác định được loại nguyên liệu cần mua và người mua có cơ sở đánh giá giá trị sản phẩm.
Thứ ba, chuyển sang thu mua dựa trên chất lượng. Quy trình cần được xác định rõ từ trước vụ sản xuất, gồm công bố yêu cầu, hướng dẫn canh tác, tiếp nhận riêng, lấy mẫu, công bố kết quả và thanh toán theo cấp chất lượng.
Theo ông Thái Như Hiệp, chất lượng cần trở thành tín hiệu kinh tế đối với người sản xuất. Các nguyên tắc thu mua cà phê có trách nhiệm được công bố trong năm 2026 cũng nhấn mạnh tính khả thi kinh tế lâu dài của nông hộ, trách nhiệm chia sẻ trong chuỗi và quan hệ hợp tác ổn định.
Thứ tư, chuyển hoạt động khuyến nông từ hướng dẫn đầu vào sang quản trị lợi nhuận nông hộ. Người trồng cần theo dõi đầy đủ chi phí, lượng nước, phân bón, thuốc, lao động, số đợt ra hoa, tỷ lệ quả chín, tỷ lệ nhân thu hồi, tỷ lệ khuyết tật và giá bán.
Theo khuyến nghị của ông Hiệp, một mô hình chỉ đáng nhân rộng khi đồng thời đạt ba kết quả: chất lượng tốt hơn, sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn và bảo đảm lợi nhuận bền vững cho nông hộ.
Kết quả xuất khẩu trong 8 tháng năm 2026 cho thấy dư địa nâng giá trị vẫn rất đáng chú ý. Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,3 triệu tấn cà phê, trị giá 6 tỷ USD. So với cùng kỳ năm 2025, lượng xuất khẩu tăng 13,1% nhưng giá trị giảm 9,1%. Giá xuất khẩu bình quân đạt 4.538 USD/tấn, giảm 19,7%. Đức, Italy và Nhật Bản tiếp tục là 3 thị trường lớn của cà phê Việt Nam, với thị phần lần lượt 13,2%, 8,2% và 7,1%. Diễn biến này cho thấy tăng sản lượng cần đi cùng nâng chất lượng và giá trị sản phẩm.
Với lợi thế về quy mô Robusta, Việt Nam có nền tảng thuận lợi để nâng cấp chuỗi giá trị. Việc chuẩn hóa vùng nguyên liệu, phân hạng sản phẩm, thu mua theo chất lượng và quản trị hiệu quả sản xuất sẽ giúp hạt cà phê được nhận diện rõ hơn trên thị trường. Khi chất lượng trở thành căn cứ trực tiếp để xác lập giá, lợi thế sản lượng của Robusta Việt Nam sẽ có thêm cơ hội chuyển hóa thành giá trị cao hơn, đồng thời tạo động lực để người nông dân đầu tư lâu dài cho chất lượng vườn cây.