Theo Cục Hải quan Việt Nam, từ đầu năm đến ngày 15/8/2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 5,7 triệu tấn gạo, thu về 2,73 tỷ USD. So với cùng kỳ năm 2025, lượng xuất khẩu giảm 2,4%, trong khi kim ngạch giảm 8,7%.
Đà giảm rõ hơn trong những tháng gần đây. Trong 15 ngày đầu tháng 8/2026, Việt Nam xuất khẩu 230.273 tấn gạo, trị giá 118,4 triệu USD, giảm lần lượt 36,5% về lượng và 34% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước. Tháng 7/2026, xuất khẩu đạt 471.814 tấn, trị giá 241,1 triệu USD, giảm 37,6% về lượng và 35,8% về kim ngạch so với tháng 6. So với cùng kỳ năm 2025, lượng xuất khẩu giảm 40%, còn kim ngạch giảm 36,5%.
![]() |
| Xuất khẩu gạo Việt Nam thêm điểm sáng, Trung Quốc tăng mua mạnh |
Philippines giảm mua, Trung Quốc nổi lên
Một nguyên nhân đáng chú ý là nhu cầu từ Philippines suy yếu. Trong tháng 7/2026, Việt Nam xuất khẩu 147.903 tấn gạo sang thị trường này, giảm 57,7% so với tháng trước và 54,9% so với cùng kỳ năm 2025. Đây cũng là mức thấp nhất kể từ đầu năm.
Dù vậy, Philippines vẫn là thị trường xuất khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2026, với khoảng 2,54 triệu tấn, trị giá 1,13 tỷ USD, chiếm 46,2% tổng lượng xuất khẩu. Lượng gạo xuất sang thị trường này tăng 4,4%, nhưng giá trị giảm 5,1% so với cùng kỳ.
Trong khi đó, Trung Quốc đang trở thành điểm sáng. Trong 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 977.639 tấn gạo sang thị trường này, trị giá 483,2 triệu USD, tăng lần lượt 96,8% về lượng và 92,2% về kim ngạch.
Australia và Saudi Arabia cũng ghi nhận mức tăng lần lượt 25,4% và 29,2%. Đáng chú ý, xuất khẩu sang Iraq tăng 167,4 lần về lượng và 111 lần về kim ngạch. Ngược lại, xuất khẩu sang Ghana, Bờ Biển Ngà, Malaysia, Singapore, Mozambique và Hong Kong (Trung Quốc) có xu hướng giảm.
Việc Philippines giảm mua diễn ra trong bối cảnh nước này thay đổi chính sách nhập khẩu. Từ đầu tháng 7, Bộ Nông nghiệp Philippines ngừng cấp phép nhập khẩu gạo 5% tấm, thay vào đó cho phép nhập khẩu gạo 25% tấm hoặc loại có tỷ lệ tấm cao hơn.
Philippines cũng đang xem xét các biện pháp bảo vệ sản xuất trong nước. Ủy ban Thuế quan điều tra khả năng áp dụng biện pháp tự vệ đối với gạo nhập khẩu, trong khi Bộ Nông nghiệp đề xuất nâng thuế nhập khẩu từ 15% lên tối thiểu 28%.
Tuy nhiên, tổng lượng gạo Philippines nhập khẩu vẫn tăng. Trong 7 tháng đầu năm, nước này nhập khoảng 3,27 triệu tấn, tăng gần 27% so với cùng kỳ năm trước. Việt Nam vẫn là nhà cung cấp lớn nhất với khoảng 2,53 triệu tấn, chiếm 77% tổng lượng nhập khẩu. Dù vậy, thị phần đã giảm so với mức 81,5% của cả năm 2025.
Giá lúa hạ nhiệt, ngành gạo tìm hướng mới
Sức ép từ thị trường xuất khẩu cũng tác động đến giá lúa gạo trong nước. Đến ngày 25/8, giá gạo nguyên liệu IR 50404 và CL 555 ở mức 9.450-9.500 đồng/kg, giảm khoảng 300-400 đồng/kg so với cuối tháng 7. Giá lúa tươi giảm khoảng 100-200 đồng/kg. Lúa OM18 và Đài Thơm 8 được thu mua ở mức 6.800-7.000 đồng/kg; OM5451 ở mức 6.500-6.600 đồng/kg; OM34 khoảng 6.000-6.100 đồng/kg; IR50404 dao động 6.300-6.400 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, theo Reuters, gạo 5% tấm của Việt Nam được chào giá 435-455 USD/tấn trong tuần kết thúc ngày 20/8, không thay đổi so với tuần trước và chỉ tăng khoảng 5 USD/tấn so với cuối tháng 7.
Trước những diễn biến này, Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) đã cử đoàn công tác sang Philippines nhằm tìm giải pháp khôi phục hoạt động xuất khẩu. Hiệp hội đồng thời kêu gọi doanh nghiệp tăng cường thu mua lúa của nông dân khi Đồng bằng sông Cửu Long bước vào vụ Hè Thu.
VFA đề nghị doanh nghiệp mua các giống lúa thơm như Đài Thơm 8, OM18 từ nông dân với giá từ 7.000 đồng/kg trở lên, đồng thời ưu tiên các hợp đồng xuất khẩu gạo thơm từ 500 USD/tấn trở lên.
Trong bối cảnh nhiều quốc gia điều chỉnh chính sách nhập khẩu theo hướng tăng bảo hộ và ưu tiên an ninh lương thực, ngành gạo Việt Nam đứng trước yêu cầu đa dạng hóa thị trường và nâng chất lượng sản phẩm. Sự tăng trưởng tại Trung Quốc cùng một số thị trường khác đang tạo thêm hướng tiêu thụ, góp phần giảm sự phụ thuộc vào một vài thị trường lớn và mở thêm dư địa cho xuất khẩu gạo Việt Nam.