![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 27/8/2026: Giá gạo nguyên liệu giảm mạnh, xuất khẩu chịu sức ép cạnh tranh |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, thu mua chậm, gạo các loại bình ổn. Tại An Giang, giao dịch mua bán chậm, giá gạo các loại ít biến động.
Tại Lấp Vò, Sa Đéc (Đồng Tháp), về lượng ít, gạo các loại giá ổn định. Tại An Cư - Đồng Tháp, giao dịch mua bán không nhiều, giá gạo biến động nhẹ.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu tiếp tục giảm so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu IR 50404 và gạo nguyên liệu CL 555 cùng giảm mạnh 300 đồng/kg, xuống còn 9.100 – 9.200 đồng/kg. Trong khi đó, giá gạo OM 5451 hiện ở mức 9.550 - 9.650 đồng/kg; gạo OM 18 quanh mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo Đài Thơm 8 ở mức 9.150 - 9.450 đồng/kg; gạo OM 380 ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo IR 50404 hiện ở mức 8.500 - 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 - 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 27/8/2026 |
Tại các chợ lẻ, giá gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mức 21.000 đồng/kg; gạo Đài thơm dao động 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mức 16.000 đồng/kg; giá Hương Lài 22.000 đồng/kg; giá gạo thường ở mức 12.000 - 15.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine ở mức 13.000 - 20.500 đồng/kg; gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp đi ngang so với hôm qua. Cụ thể, giá nếp 3 tháng khô 9.600 - 9.700 đồng/kg; giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg;…
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 27/8/2026 |
Mặt hàng phụ phẩm
Giá các loại phụ phẩm ổn định so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá cám giao dịch trong khoảng 7.550 – 7.650 đồng/kg; giá tấm thơm ở mức 8.650 - 8.750 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 27/8/2026 |
Giá lúa trong nước
Tại nhiều địa phương trong vùng, nguồn lúa không còn nhiều, giao dịch trầm lắng. Ở Vĩnh Long, lượng lúa còn ít, sức mua chậm khiến giá hầu như không biến động.
Tại các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cà Mau, Cần Thơ và Tây Ninh, thị trường lúa cũng trong trạng thái giao dịch cầm chừng, giá các loại lúa nhìn chung giữ ổn định.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay bình ổn so với phiên hôm qua. Theo đó, giá lúa OM 5451 (tươi) hiện ở mức 6.500 - 6.600 đồng/kg; giá lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 6.000 - 6.100 đồng/kg; lúa tươi OM 18 thu mua từ 6.800 - 7.000 đồng/kg; giá lúa IR 50404 hiện ở mức 6.300 - 6.400 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 (tươi) dao động ở mức 6.800 - 7.000 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 27/8/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo trắng 5% tấm của Việt Nam hiện được chào bán ở mức 438 - 442 USD/tấn, gạo Jasmine đạt 538 - 542 USD/tấn, trong khi gạo thơm 5% tấm dao động 490 - 500 USD/tấn.
Tại các quốc gia sản xuất hàng đầu khác, gạo 5% tấm của Thái Lan có giá 450 - 454 USD/tấn. Sản phẩm cùng loại của Pakistan ở mức thấp hơn, khoảng 401 - 405 USD/tấn.
Trong khi đó, Ấn Độ vẫn duy trì mức giá cạnh tranh nhất, với gạo trắng 5% tấm được chào bán ở mức360 - 364 USD/tấn, còn gạo đồ 5% tấm đạt 366 - 370 USD/tấn.
Sự bùng nổ của gạo Pakistan tại Trung Quốc trong 7 tháng đầu năm 2026 cho thấy thương mại nông sản song phương đang bước sang một giai đoạn mới. Theo Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC), kim ngạch xuất khẩu gạo Pakistan đạt 122,99 triệu USD, tăng 200,49% so với 40,93 triệu USD cùng kỳ năm 2025. Đáng chú ý, sản lượng tăng tới 265,55%, lên 360.887 tấn, cho thấy sức mua của thị trường Trung Quốc đang mở rộng nhanh, đặc biệt từ các ngành chế biến thực phẩm và thức ăn chăn nuôi.
Động lực tăng trưởng còn nằm ở sự thay đổi trong cơ cấu sản phẩm. Gạo xay hạt dài (HS 1006.3020) vẫn là mặt hàng chủ lực, đạt 58,10 triệu USD, tương đương khoảng 47% tổng kim ngạch. Tuy nhiên, gạo tấm mới là phân khúc tăng tốc mạnh nhất. Xuất khẩu gạo tấm hạt dài tăng 607,89%, đạt 41,50 triệu USD, trong khi gạo tấm hạt ngắn và trung bình tăng tới 988,07%, lên 23,40 triệu USD. Diễn biến này phản ánh nhu cầu ngày càng lớn đối với nguyên liệu đầu vào cho công nghiệp thực phẩm và chăn nuôi Trung Quốc.
Về thị trường, Quảng Đông nổi lên như cửa ngõ quan trọng nhất với 41,64 triệu USD, chiếm gần 34% tổng kim ngạch, tiếp đến là Bắc Kinh với 37,57 triệu USD và Giang Tây với 18,82 triệu USD. Kết quả này được hỗ trợ bởi các chương trình kết nối B2B giữa doanh nghiệp Pakistan và nhà nhập khẩu Trung Quốc tại Quảng Châu. Theo ông Muhammad Imran, Tham tán Thương mại Pakistan, dư địa tăng trưởng sẽ phụ thuộc vào việc tận dụng CPFTA, đẩy mạnh gạo Basmati đóng gói, xây dựng thương hiệu và hợp tác công nghệ giống để nâng giá trị thay vì chỉ mở rộng sản lượng.