![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 24/8/2026: Giá lúa gạo trong nước đi ngang, Philippines tăng nhập khẩu |
Giá gạo trong nước
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu đi ngang so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu IR 50404 ở mức 9.450 - 9.550 đồng/kg; gạo nguyên liệu CL 555 giao dịch ở mức 9.500 – 9.550 đồng/kg; giá gạo OM 5451 hiện ở mức 9.550 - 9.650 đồng/kg; gạo OM 18 quanh mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo Đài Thơm 8 ở mức 9.150 - 9.450 đồng/kg; gạo OM 380 ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo IR 50404 hiện ở mức 8.500 - 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 - 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 24/8/2026 |
Tại các chợ lẻ, giá gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mức 21.000 đồng/kg; gạo Đài thơm dao động 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mức 16.000 đồng/kg; giá Hương Lài 22.000 đồng/kg; giá gạo thường ở mức 12.000 - 15.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine ở mức 13.000 - 20.500 đồng/kg; gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp không đổi so với hôm qua. Cụ thể, giá nếp 3 tháng khô 9.600 - 9.700 đồng/kg; giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg;…
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 24/8/2026 |
Mặt hàng phụ phẩm
Giá các loại phụ phẩm chững giá so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá tấm thơm dao động từ 8.650 - 8.750 đồng/kg; giá cám hiện ở mức 7.450 - 7.550 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 24/8/2026 |
Giá lúa trong nước
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay bình ổn so với phiên hôm qua. Theo đó, giá lúa tươi IR 50404 hiện ở mức 6.300 - 6.400 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) ở mức 6.000 - 6.200 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 (tươi) dao động ở mức 6.800 - 7.000 đồng/kg; giá giá lúa tươi OM 18 thu mua ở mức 6.900 - 7.000 đồng/kg; lúa OM 5451 (tươi) ổn định ở mức 6.600 - 6.700 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 24/8/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo trắng 5% tấm của Việt Nam vẫn được chào bán ở mức 438 - 442 USD/tấn, gạo Jasmine trong khoảng 538 - 542 USD/tấn, còn gạo thơm 5% tấm có giá 490 - 500 USD/tấn.
Tại các nước xuất khẩu lớn trong khu vực, gạo 5% tấm của Thái Lan đang có giá 450 - 454 USD/tấn. Sản phẩm cùng loại của Pakistan dao động từ 401 - 405 USD/tấn. Trong khi đó, Ấn Độ vẫn là nước có lợi thế rõ rệt về giá, khi gạo trắng 5% tấm chỉ ở mức 360 - 364 USD/tấn, gạo đồ 5% tấm trong khoảng 366 - 370 USD/tấn.
Sau khi tỷ lệ tự chủ gạo tăng mạnh trong năm 2025, Philippines đang bước vào một năm khó khăn hơn khi thời tiết cực đoan và chi phí sản xuất cùng lúc gây sức ép lên ngành lúa gạo.
Chính phủ đặt mục tiêu nâng tỷ lệ tự chủ gạo lên 84% trong năm 2026. Tuy nhiên, mục tiêu này ngày càng xa khi sản lượng trong nước có nguy cơ giảm, trong khi nhập khẩu tăng nhanh để bảo đảm nguồn cung. Bộ Nông nghiệp Philippines dự báo sản lượng lúa có thể giảm khoảng 700.000 tấn nếu El Niño diễn biến mạnh; sản lượng gạo cả năm được ước tính chỉ còn 18,6-18,8 triệu tấn do giá phân bón và nhiên liệu tăng.
Ở chiều ngược lại, nhập khẩu đang tăng tốc. Đến cuối tháng 7, Philippines đã nhập khoảng 3,27 triệu tấn gạo, tăng gần 27% so với cùng kỳ năm 2025. Con số này đã gần bằng toàn bộ lượng nhập khẩu của cả năm 2025, khi Manila áp dụng lệnh tạm dừng nhập khẩu trong bốn tháng.
Áp lực thời tiết cũng đang hiện hữu. Viện Nghiên cứu Lúa Philippines cảnh báo El Niño có thể gây thiếu nước tại các vùng trồng lúa lớn; khoảng 301.000 ha đất lúa ở Luzon được xếp vào nhóm có nguy cơ hạn hán cao.
Trong bối cảnh đó, chuyên gia Fermin Adriano cho rằng để đạt SSR 84%, Philippines phải có thêm khoảng 1,6 triệu tấn gạo, tương đương gần 3 triệu tấn lúa. Đây là khoảng cách lớn đối với một ngành đang chịu đồng thời sức ép từ thời tiết, chi phí đầu vào và nhu cầu nhập khẩu.