![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 23/8/2026: Giá lúa tươi trái chiều, gạo nguyên liệu giảm phiên thứ 4 liên tiếp |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay lượng về lai rai, giao dịch mua bán ít. Tại Sa Đéc (Đồng Tháp), gạo ngang về ít, gạo nguyên liệu các loại giá ổn định. Tại Lấp Vò (Đồng Tháp), nhu cầu kho mua yếu, mặt bằng giá không đổi.
Kênh chợ Sa Đéc, các kho tạm ngưng giao dịch, mua bán ít. giá giảm nhiều. Tại An Cư (Cái Bè, Tiền Giang), gạo có lai rai, ít gạo đẹp, giá đi ngang.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu giảm phiên thứ 4 liên tiếp. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu IR 50404 giảm 150 đồng/kg, xuống còn 9.450 - 9.550 đồng/kg; gạo nguyên liệu CL 555 cũng giảm 150 đồng/kg, còn 9.500 – 9.550 đồng/kg. Tuy nhiên, giá gạo OM 5451 hiện ở mức 9.550 - 9.650 đồng/kg; gạo OM 18 quanh mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo Đài Thơm 8 ở mức 9.150 - 9.450 đồng/kg; gạo OM 380 ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo IR 50404 hiện ở mức 8.500 - 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 - 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 23/8/2026 |
Tại các chợ lẻ, giá gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mức 21.000 đồng/kg; gạo Đài thơm dao động 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mức 16.000 đồng/kg; giá Hương Lài 22.000 đồng/kg; giá gạo thường ở mức 12.000 - 15.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine ở mức 13.000 - 20.500 đồng/kg; gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp tiếp tục bình ổn so với hôm qua. Cụ thể, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg; giá nếp 3 tháng khô 9.600 - 9.700 đồng/kg;…
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 23/8/2026 |
Mặt hàng phụ phẩm
Giá các loại phụ phẩm ổn định so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá tấm thơm dao động từ 8.650 - 8.750 đồng/kg; giá cám hiện ở mức 7.450 - 7.550 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 23/8/2026 |
Giá lúa trong nước
Tại nhiều địa phương trong vùng, nguồn lúa không còn dồi dào, kéo theo hoạt động mua bán diễn ra chậm. Ở Vĩnh Long, lượng lúa còn ít, khiến giá biến động.
Tại các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cà Mau, Cần Thơ và Tây Ninh, thị trường lúa cũng trong trạng thái giao dịch cầm chừng, giá các loại lúa tăng nhẹ.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay tăng giảm trái chiều với một số chủng loại lúa so với phiên hôm qua. Theo đó, giá lúa tươi IR 50404 giảm 100 đồng/kg, xuống còn 6.300 - 6.400 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) giảm 100 đồng/kg, về mức 6.000 - 6.200 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 (tươi) giảm 100 đồng/kg, dao động ở mức 6.800 - 7.000 đồng/kg. Ngược chiều giảm, giá giá lúa tươi OM 18 tăng 100 đồng/kg, lên mức 6.900 - 7.000 đồng/kg. Tuy nhiên, lúa OM 5451 (tươi) hiện ổn định ở mức 6.600 - 6.700 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 23/8/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo trắng 5% tấm của Việt Nam vẫn được chào bán ở mức 438 - 442 USD/tấn, gạo Jasmine trong khoảng 538 - 542 USD/tấn, còn gạo thơm 5% tấm có giá 490 - 500 USD/tấn.
Tại các nước xuất khẩu lớn trong khu vực, gạo 5% tấm của Thái Lan đang có giá 450 - 454 USD/tấn. Sản phẩm cùng loại của Pakistan dao động từ 401 - 405 USD/tấn. Trong khi đó, Ấn Độ vẫn là nước có lợi thế rõ rệt về giá, khi gạo trắng 5% tấm chỉ ở mức 360 - 364 USD/tấn, gạo đồ 5% tấm trong khoảng 366 - 370 USD/tấn.
Tỷ lệ tự chủ gạo của Philippines đã phục hồi đáng kể trong năm 2025, nhưng đằng sau con số cải thiện là sự sụt giảm mạnh của nhập khẩu thay vì bước tiến rõ rệt về năng suất sản xuất trong nước.
Theo Cơ quan Thống kê Philippines (PSA), tỷ lệ tự chủ gạo (SSR) tăng lên 78,1% năm 2025, từ mức 71,7% của năm trước. Đây là mức tăng 6,4 điểm phần trăm, nhưng vẫn thấp hơn ngưỡng 80% và cách khá xa mức 81,5% ghi nhận năm 2021.
Một trong những nguyên nhân chính là chính sách hạn chế nhập khẩu kéo dài từ tháng 9 đến tháng 12/2025. Lượng gạo nhập khẩu cả năm giảm gần 30%, xuống khoảng 3,39 triệu tấn, so với kỷ lục 4,68 triệu tấn năm 2024.
Tuy nhiên, giới chuyên gia cảnh báo không nên xem SSR là thước đo duy nhất của năng lực tự chủ. Cựu Thứ trưởng Nông nghiệp Fermin Adriano cho rằng năng suất trên mỗi hécta phản ánh sát hơn sức khỏe của ngành lúa gạo. Liên đoàn Nông dân Tự do cũng nhận định tỷ lệ này có thể tăng đơn giản vì nhập khẩu giảm, ngay cả khi sản lượng nội địa gần như không thay đổi.
Vì vậy, mức 78,1% mới chỉ là tín hiệu tích cực về mặt thống kê, chưa đủ để khẳng định Philippines đã giảm căn bản sự phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài.