Sau Nghị quyết 08-NQ/TW năm 2017 của Bộ chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, ngành du lịch Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc.
Năm 2025 đánh dấu một cột mốc đáng chú ý của du lịch Việt Nam khi lượng khách quốc tế đạt gần 21,2 triệu lượt, tăng 20,4% so với năm 2024.Tính trong quý I/2026, lượng khách quốc tế đạt hơn 6 triệu lượt, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước
Cùng thời gian trên, du lịch nội địa có hơn 100 triệu lượt khách. Tổng thu từ khách du lịch lần đầu tiên vượt mốc 1 triệu tỷ đồng tính đến thời điểm 2025.
Phát triển du lịch không chỉ dừng lại ở hoạt động dịch vụ phục vụ nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng. Với tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, ngành kinh tế này có khả năng kéo theo sự phát triển của hàng loạt lĩnh vực khác, từ vận tải, lưu trú, ăn uống, bán lẻ đến giải trí, văn hóa, thể thao và các ngành công nghiệp sáng tạo. Tuy nhiên, đóng góp của du lịch vào nền kinh tế vẫn chưa tương xứng với tiềm năng hiện có.
![]() |
Định hướng đến năm 2030 du lịch đóng góp trực tiếp 10-12% GDP; đón 45-50 triệu lượt khách quốc tế và phục vụ khoảng 160 triệu lượt khách nội địa. Tổng thu từ khách du lịch đạt 80-90 tỷ USD.
Trong đó, trọng tâm được xác định là nhóm khách có mức chi tiêu cao và lưu trú dài ngày.
Đây là sự thay đổi mấu chốt trong chiến lược phát triển. Thay vì chỉ gia tăng lượng khách, ngành du lịch cần nâng chất lượng sản phẩm, kéo dài thời gian lưu trú, mở rộng hệ thống dịch vụ để có khả năng thu hút khách lưu trú lâu dài và sử dụng nhiều loại hình dịch vụ hơn.
Phát triển du lịch hiện nay cần được nhìn nhận như một mắt xích của mô hình hệ sinh thái kinh tế tổng hợp.
Rất dễ để nhận thấy du lịch có thể tạo thị trường cho ngành vận tải, bán lẻ, nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm, thương mại điện tử, giải trí và công nghiệp văn hóa…ở chiều ngược lại, sự phát triển của những lĩnh vực này cũng làm tăng sức hấp dẫn và khả năng cạnh tranh của điểm đến.
Ví dụ cụ thể, một điểm đến là khu du lịch biển nếu chỉ có khách sạn và bãi biển sẽ khó giữ chân du khách nhiều ngày. Nhưng nếu được kết nối với trung tâm mua sắm, phố ẩm thực, sân golf, hoạt động thể thao biển, chương trình biểu diễn, lễ hội và kinh tế đêm, giá trị của một du khách có thể tăng lên đáng kể.
Tương tự, di sản văn hóa nếu chỉ được bảo tồn và tham quan theo phương thức truyền thống sẽ khó tạo ra nguồn thu tương xứng. Khi kết hợp với điện ảnh, âm nhạc, nghệ thuật trình diễn, công nghệ số, thiết kế, thời trang và các sản phẩm sáng tạo, di sản có thể trở thành một mắt xích trong chuỗi giá trị của công nghiệp văn hóa.
Bên cạnh đó cần phát triển hệ thống hạ tầng, kết nối đồng bộ. Cao tốc, đường ven biển, cảng hàng không, cảng tàu du lịch, bến du thuyền, đường sắt, đường thủy cùng hệ thống trung tâm hội nghị, triển lãm và thiết chế văn hóa cần được đặt trong một mạng lưới thống nhất.
Khi khả năng kết nối được cải thiện, đồng bộ, hạ tầng du lịch không chỉ phục vụ việc di chuyển mà còn tạo ra dòng khách, dòng vốn và dòng tiền mới cho nhiều địa phương.
Không chỉ riêng du lịch, doanh nghiệp luôn là yếu tố cốt lõi trong sự phát triển.
Mục tiêu ngắn hạn đến 2030 hình thành khoảng 15 tập đoàn, tổng công ty du lịch có thương hiệu mạnh và sức cạnh tranh quốc tế . Đây không chỉ là câu chuyện về quy mô doanh nghiệp, mà còn liên quan đến năng lực quản trị, khả năng xây dựng sản phẩm và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị du lịch toàn cầu.
Theo như hiện tại, doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngành du lịch Việt Nam đang có số lượng lớn. Họ có vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm và cung cấp dịch vụ tại địa phương nhưng hạn chế về vốn, công nghệ, nhân lực chuyên môn và khả năng tiếp cận thị trường quốc tế.
Do đó, song song với việc hình thành những doanh nghiệp lớn, chính sách mới cũng hướng tới tạo môi trường kinh doanh thuận lợi hơn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, cộng đồng dân cư và các mô hình kinh doanh mới.
Các cơ chế về chính sách, tín dụng ưu đãi, hỗ trợ dự án du lịch xanh, hỗ trợ khởi nghiệp, thu hút đầu tư chiến lược và tháo gỡ các điểm nghẽn về đất đai, thủ tục, tài chính được đặt ra nhằm khơi thông nguồn lực xã hội.
Tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các mô hình mới như kinh tế đêm, kinh tế chia sẻ, kinh doanh trên nền tảng số hay các tổ hợp du lịch quy mô lớn cần một môi trường pháp lý linh hoạt hơn để phát triển.
Theo đó, khi công nghệ được phát triển đồng nhất thì cơ sở dữ liệu du lịch quốc gia, nền tảng số du lịch quốc gia, bản đồ số, vé điện tử, trợ lý du lịch ảo đa ngôn ngữ, bảo tàng số và các hệ thống phân tích và quản trị bằng dữ liệu sẽ được thúc đẩy.
Đối với doanh nghiệp du lịch, công nghệ giúp họ nắm bắt xu hướng, hành vi tiêu dùng, thị trường mục tiêu giúp định hình phát triển sản phẩm dịch vụ phù hợp.
Bên cạnh chuyển đổi số là yêu cầu chuyển đổi xanh. Các cơ sở lưu trú được định hướng ứng dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng, nước; tăng cường xử lý chất thải; giảm rác thải nhựa; sử dụng năng lượng sạch và phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn.
Trong cuộc cạnh tranh toàn cầu, đây không còn là lựa chọn mang tính hình thức. Du lịch xanh và thông minh đang dần trở thành tiêu chuẩn của một điểm đến có năng lực cạnh tranh.
Định hướng đến năm 2045, du lịch Việt Nam đóng góp trực tiếp 14-15% GDP, trở thành điểm đến chất lượng cao, đẳng cấp và mang đậm bản sắc Việt Nam, phấn đấu đón khoảng 70 triệu lượt khách quốc tế.
Nhưng để đạt được kết quả như trên thì thách thức đặt ra nằm ở năng lực thực thi.
Thể chế phải theo kịp các mô hình kinh doanh mới. Hạ tầng phải đi trước nhu cầu thị trường. Doanh nghiệp phải nâng tầm năng lực quản trị. Nhân lực đạt chuẩn quốc tế. Các địa phương phải tăng liên kết. Đồng thời, chất lượng môi trường và tài nguyên phải được bảo vệ trong quá trình khai thác...
Từ mục tiêu “đón nhiều khách” sang “khách chi tiêu nhiều hơn”; từ khai thác tài nguyên sang tạo sản phẩm; từ phát triển đơn ngành sang hệ sinh thái; từ quản lý hành chính sang quản trị dữ liệu; từ tăng trưởng nhanh sang tăng trưởng xanh và bền vững là một bước tiến có nhiều cơ hội và thách thức.
Khi du lịch được định hướng là ngành mũi nhọn của nền kinh tế vấn đề đặt ra không chỉ là thu hút được bao nhiêu khách nữa, mà là làm thế nào để du lịch Việt Nam tạo ra giá trị cộng hưởng, trở thành động lực tăng trưởng mới cho liên ngành.