Theo lãnh đạo Sở Tài chính TP. Hồ Chí Minh, việc mở rộng không gian phát triển đang tạo thêm lợi thế bổ trợ giữa các khu vực. Khu vực trung tâm có thế mạnh về tài chính, thương mại, dịch vụ, công nghệ và nghiên cứu phát triển; khu vực Bình Dương trước đây sở hữu nền tảng công nghiệp, hệ thống khu công nghiệp và chuỗi cung ứng sản xuất; trong khi Bà Rịa - Vũng Tàu trước đây có lợi thế về cảng biển, logistics, năng lượng và kinh tế biển.
Sự kết hợp này mở ra không gian đầu tư có quy mô lớn hơn, đồng thời tạo điều kiện liên kết chặt chẽ hơn giữa các khâu sản xuất, dịch vụ, logistics và xuất khẩu. Đây được xem là một trong những lợi thế quan trọng để TP. Hồ Chí Minh nâng cao sức cạnh tranh trong thu hút dòng vốn quốc tế.
![]() |
| TP. Hồ Chí Minh tăng tốc hút FDI, không gian mới mở rộng dư địa đầu tư |
Quy mô và mức độ đóng góp của khu vực FDI cũng cho thấy vai trò ngày càng rõ nét trong nền kinh tế thành phố.
Theo kết quả sơ bộ Tổng điều tra kinh tế năm 2026, trong vòng 5 năm, số doanh nghiệp FDI tại TP. Hồ Chí Minh tăng 41%, là khu vực có tốc độ tăng nhanh nhất trong các khu vực doanh nghiệp. Sau khi mở rộng địa giới, thành phố có 14.032 doanh nghiệp FDI.
Khu vực này chiếm chưa tới 5% tổng số doanh nghiệp nhưng tạo ra hơn 3,86 triệu tỷ đồng doanh thu thuần trong năm 2025, tương đương trên 31% tổng doanh thu của khu vực doanh nghiệp trên địa bàn. Tổng nguồn vốn của các doanh nghiệp FDI đạt gần 5,5 triệu tỷ đồng, tăng 65,5% so với năm 2020.
Đáng chú ý, tỷ lệ vốn FDI thực hiện đạt 66,4% so với vốn đăng ký. Con số này cho thấy phần đáng kể nguồn vốn cam kết đã được chuyển hóa thành nguồn lực thực tế cho đầu tư, sản xuất và kinh doanh.
Tuy nhiên, khoảng cách giữa vốn đăng ký và vốn thực hiện vẫn cho thấy dư địa lớn để thành phố cải thiện tốc độ triển khai dự án.
Theo Sở Tài chính, độ trễ thường xuất hiện ở các dự án có quy mô lớn, sử dụng nhiều đất hoặc đòi hỏi đầu tư đồng bộ về xây dựng, giao thông và năng lượng. Bên cạnh đó, nhà đầu tư còn phải thực hiện nhiều thủ tục liên quan đến quy hoạch, đất đai, xây dựng, môi trường và phòng cháy, chữa cháy.
Đối với các dự án công nghệ cao, sản xuất, logistics hay trung tâm dữ liệu, thời gian chuẩn bị còn liên quan đến xây dựng hạ tầng, nhập khẩu máy móc, thiết bị và tuyển dụng nhân sự có chuyên môn. Vì vậy, việc rút ngắn thời gian hoàn thiện thủ tục và bàn giao mặt bằng có ý nghĩa trực tiếp đối với tiến độ giải ngân vốn.
Từ góc nhìn nhà đầu tư, hạ tầng giao thông liên vùng được kỳ vọng tạo thêm động lực cho dòng vốn FDI vào TP. Hồ Chí Minh và toàn vùng Đông Nam Bộ.
Ông Rizwan Khan, Giám đốc Điều hành Acclime Vietnam, đánh giá việc hình thành các tuyến cao tốc liên vùng cùng Vành đai 3 và Vành đai 4 sẽ từng bước hoàn thiện mạng lưới kết nối giữa các trung tâm sản xuất với hệ thống cảng biển và hàng không.
Đặc biệt, khả năng kết nối với cảng nước sâu Cái Mép - Thị Vải và sân bay Long Thành có thể giúp doanh nghiệp rút ngắn thời gian vận chuyển, tối ưu chuỗi cung ứng và giảm chi phí logistics.
Đối với các nhà đầu tư quốc tế, đây không chỉ là câu chuyện về hạ tầng giao thông mà còn liên quan trực tiếp tới khả năng tổ chức sản xuất và phân phối trong khu vực. Khi các phương thức vận tải được kết nối đồng bộ, lợi thế của TP. Hồ Chí Minh có thể được mở rộng từ một trung tâm tiêu dùng và dịch vụ thành một đầu mối sản xuất - logistics - xuất khẩu quy mô lớn.
Khu Công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh đang được xác định là một trong những không gian quan trọng để thu hút dòng vốn có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao.
Ông Lê Thành Nhân, Trưởng phòng Xúc tiến đầu tư, Khu Công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh, cho biết hiện khu có 165 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư tương đương 13,863 tỷ USD. Trong đó, 57 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn 11,005 tỷ USD và 108 dự án trong nước với tổng vốn tương đương 2,857 tỷ USD.
Giá trị sản xuất các sản phẩm công nghệ cao tại khu đạt khoảng 23 tỷ USD trong năm 2025. Năm 2026, Khu Công nghệ cao đặt mục tiêu thu hút khoảng 1,6 tỷ USD vốn đầu tư, tập trung vào các lĩnh vực như vi mạch bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và hạ tầng số.
Đây cũng là hướng đi phù hợp với xu thế dịch chuyển dòng vốn quốc tế sang các ngành công nghệ cao, nơi các nhà đầu tư không chỉ tìm kiếm mặt bằng sản xuất mà còn quan tâm đến chất lượng nhân lực, hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ, năng lực nghiên cứu - phát triển và khả năng kết nối với thị trường.
Tuy nhiên, theo ông Nhân, dù thủ tục đầu tư đã được đơn giản hóa đáng kể, quá trình triển khai dự án vẫn có thể liên quan tới nhiều cơ quan trước khi nhà đầu tư được bàn giao đất.
Trong trường hợp thủ tục thuê đất và bàn giao mặt bằng chưa hoàn tất, các bước tiếp theo như xây dựng, đấu nối hạ tầng, lắp đặt thiết bị và tổ chức sản xuất đều có thể bị kéo dài. Điều này làm gia tăng chi phí và khiến doanh nghiệp khó dự báo chính xác thời gian đưa dự án vào vận hành.
Để rút ngắn khoảng cách giữa vốn đăng ký và vốn thực hiện, Sở Tài chính TP. Hồ Chí Minh cho biết sẽ phối hợp với các sở, ngành, địa phương và ban quản lý tăng cường theo dõi dự án sau cấp phép.
Các dự án trọng điểm, dự án có quy mô vốn lớn sẽ được phân nhóm để tập trung đôn đốc và kịp thời tháo gỡ khó khăn. Những vấn đề vượt thẩm quyền sẽ được tổng hợp, báo cáo UBND thành phố xem xét, xử lý.
Tại Khu Công nghệ cao, cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại chỗ cũng được triển khai theo hướng rà soát hồ sơ từ sớm, theo dõi tiến độ xuyên suốt và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan, qua đó hạn chế việc nhà đầu tư phải làm việc với quá nhiều đầu mối.
Về dài hạn, TP. Hồ Chí Minh định hướng chuyển trọng tâm thu hút FDI từ mở rộng quy mô sang nâng cao chất lượng và hiệu quả dòng vốn. Thành phố sẽ ưu tiên các dự án công nghệ hiện đại, giá trị gia tăng cao, sử dụng hiệu quả đất đai và năng lượng, đồng thời có khả năng kết nối với hệ sinh thái doanh nghiệp trong nước.
Với hơn 10 tỷ USD FDI thu hút trong 8 tháng, TP. Hồ Chí Minh đang tiến gần mục tiêu cả năm. Tuy nhiên, sức cạnh tranh của thành phố trong giai đoạn mới sẽ không chỉ được đo bằng lượng vốn đăng ký mà còn bằng tốc độ giải ngân, chất lượng dự án, mức độ liên kết với doanh nghiệp nội địa và khả năng hình thành các chuỗi giá trị có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.