Việc Quốc hội thông qua Luật Phát triển đô thị được kỳ vọng tạo thêm một lớp cơ chế quan trọng cho quá trình phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam, trong đó có Trung tâm tài chính quốc tế tại TP. Hồ Chí Minh (VIFC-HCMC).
Trong bối cảnh nhu cầu vốn cho hạ tầng và phát triển kinh tế ngày càng lớn, vấn đề đặt ra với TP. Hồ Chí Minh không chỉ là huy động thêm nguồn lực, mà còn phải hình thành được cơ chế kết nối và phân bổ dòng vốn vào những lĩnh vực có khả năng tạo giá trị gia tăng và sức lan tỏa cao.
![]() |
| Bí thư Thành ủy TP. Hồ Chí Minh Trần Lưu Quang. |
Theo Bí thư Thành ủy TP. Hồ Chí Minh Trần Lưu Quang, Thành phố đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số từ năm 2026. Sáu tháng đầu năm, GRDP tăng 8,55%, cao nhất trong 10 năm qua. Tuy nhiên, áp lực hoàn thành mục tiêu tăng trưởng cả năm vẫn lớn, đòi hỏi Thành phố phải tìm kiếm thêm những động lực và phương thức huy động nguồn lực mới.
Trong cấu trúc đó, Trung tâm tài chính quốc tế được kỳ vọng không chỉ là nơi tập trung các định chế tài chính, mà trở thành một mắt xích kết nối dòng vốn với nhu cầu phát triển thực của nền kinh tế.
Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành VIFC-HCMC, điểm đáng chú ý của Luật Phát triển đô thị là tạo thêm cơ sở để nhìn nhận Trung tâm tài chính quốc tế từ góc độ rộng hơn.
Một trung tâm tài chính không chỉ được đo bằng số lượng ngân hàng, quỹ đầu tư hay doanh nghiệp tài chính quốc tế hiện diện, mà quan trọng hơn là khả năng huy động, cấu trúc, phân bổ và luân chuyển nguồn vốn đến những khu vực có nhu cầu và khả năng tạo ra giá trị.
Nghị quyết số 222/2025/QH15 cùng các nghị định hướng dẫn đã tạo dựng khung vận hành cho VIFC, bao gồm mô hình tổ chức, cơ chế thành viên, cấp phép, ngoại hối, thuế, sandbox, giải quyết tranh chấp và các quy tắc hoạt động.
Trong khi đó, Luật Phát triển đô thị bổ sung một lớp kết nối với bên ngoài, tạo điều kiện để hệ sinh thái tài chính này gắn với doanh nghiệp, dự án, hạ tầng và nhu cầu phát triển của đô thị.
“Nếu Nghị quyết 222/2025/QH15 giúp xây ‘cỗ máy tài chính’, thì Luật Phát triển đô thị tạo thêm ‘đường dẫn’ để cỗ máy đó đưa vốn vào nền kinh tế thực”, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân chia sẻ.
Theo ông, đây là bước chuyển từ tư duy “xây một trung tâm tài chính” sang “dùng trung tâm tài chính để phát triển thành phố”.
Một trong những yếu tố quyết định hiệu quả của VIFC-HCMC là khả năng kết nối với khu vực doanh nghiệp và các dự án trong nền kinh tế.
Theo đại diện VIFC-HCMC, quy định tại Điều 24 Luật Phát triển đô thị tạo cơ sở để các thành viên Trung tâm, trong phạm vi được cấp phép, cung cấp dịch vụ tài chính và dịch vụ hỗ trợ cho các tổ chức trong nước thực hiện giao dịch, huy động vốn quốc tế.
Hoạt động này được đặt trong khuôn khổ các quy định về ngoại hối, phòng, chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố và quản lý nợ công.
Đây được xem là điểm có ý nghĩa đối với khả năng lan tỏa của Trung tâm tài chính. Nếu các thành viên chỉ giao dịch trong một hệ sinh thái khép kín, Trung tâm khó tạo được tác động đáng kể tới nền kinh tế.
Ngược lại, khi doanh nghiệp và dự án trong nước có thể tiếp cận có kiểm soát với hệ thống dịch vụ của VIFC-HCMC, Trung tâm có thể trở thành một cửa ngõ kết nối nguồn vốn quốc tế với các cơ hội đầu tư tại Việt Nam.
Khi đó, doanh nghiệp hoặc dự án đủ điều kiện không chỉ tiếp cận một khoản vay đơn lẻ mà có thể sử dụng cả chuỗi dịch vụ tài chính, từ tư vấn cấu trúc vốn, xếp hạng tín nhiệm, kiểm toán, tư vấn pháp lý, bảo lãnh phát hành đến thu xếp khoản vay hợp vốn, quản trị ngoại hối, bảo hiểm, lưu ký, thanh toán và quản trị rủi ro.
Đây cũng là chuỗi giá trị tạo nên sức mạnh của các trung tâm tài chính lớn trên thế giới. Với TP. Hồ Chí Minh, việc hình thành được chuỗi kết nối này sẽ là yếu tố quan trọng để đưa VIFC-HCMC từ một thiết chế có cơ chế đặc thù trở thành một bộ phận của hạ tầng tài chính phục vụ đầu tư và tăng trưởng.
Theo VIFC-HCMC, nếu các cơ chế mới được triển khai hiệu quả, nhiều lĩnh vực có nhu cầu vốn lớn, dài hạn và khả năng tạo dòng tiền ổn định có thể trở thành những nhóm hấp thụ vốn quan trọng.
Trước hết là hạ tầng đô thị, đặc biệt các dự án metro và mô hình phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD). Đây là nhóm dự án đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn nhưng đồng thời có khả năng hình thành nhiều nguồn thu bổ trợ ngoài doanh thu vận tải.
Trong trường hợp phù hợp, các công cụ như trái phiếu công trình, trái phiếu xanh, quỹ đầu tư hạ tầng, cấu trúc hợp tác công - tư (PPP) hoặc các sản phẩm huy động vốn gắn với tài sản và dòng tiền từ TOD có thể được nghiên cứu. Việc đa dạng hóa công cụ huy động sẽ góp phần giảm áp lực lên ngân sách và tín dụng ngân hàng.
Cảng biển, logistics và kinh tế hàng hải cũng mở ra nhu cầu lớn đối với các dịch vụ tài chính chuyên sâu. Khi hệ thống cảng và logistics của TP. Hồ Chí Minh mở rộng, nhu cầu vốn không chỉ nằm ở đầu tư hạ tầng mà còn liên quan đến tài trợ thương mại, tài trợ chuỗi cung ứng, tài chính tàu biển, bảo hiểm, tái bảo hiểm và các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá, giá nhiên liệu.
Tương tự, hệ sinh thái hàng không gắn với sân bay Long Thành có thể tạo nhu cầu đối với các sản phẩm tài chính chuyên biệt như tài trợ mua và thuê máy bay, tài trợ tiền đặt cọc, tài trợ động cơ, khoản vay hợp vốn, bảo hiểm và các cấu trúc tài chính gắn với tài sản hàng không.
Trong khi đó, sự phát triển của khu thương mại tự do, sản xuất và xuất nhập khẩu sẽ kéo theo nhu cầu lớn hơn về thanh toán quốc tế, tài trợ thương mại, bảo lãnh, quản trị ngoại hối và tài trợ chuỗi cung ứng.
Ở nhóm lĩnh vực mới, chuyển đổi xanh, hạ tầng số và kinh tế công nghệ cũng được đánh giá có khả năng thu hút dòng vốn quốc tế. Đây là những lĩnh vực vừa cần nguồn vốn lớn, vừa phải đáp ứng ngày càng cao các tiêu chuẩn quốc tế về môi trường, dữ liệu và quản trị.
Nếu các dự án được chuẩn hóa, minh bạch thông tin và triển khai trong khuôn khổ quản trị, thử nghiệm và giám sát phù hợp, khả năng tiếp cận các nguồn vốn quốc tế sẽ được cải thiện.