![]() |
| Ông Trường Bùi, Tổng Giám đốc Roland Berger Việt Nam. Ảnh: Newing. |
Tại sự kiện công bố NExT Forum 2026 với chủ đề “Tăng tốc giữa biến động: Khát vọng hay thực lực?” ngày 7/9 tại TP. Hồ Chí Minh, ông Trường Bùi, Tổng Giám đốc Roland Berger Việt Nam, cho biết vai trò của Việt Nam trong chuỗi cung ứng khu vực đang có sự thay đổi đáng chú ý.
Roland Berger là công ty tư vấn chiến lược của Đức. Theo ông Trường Bùi, lợi thế của Việt Nam hiện không còn chỉ nằm ở chi phí lao động mà được củng cố bởi tăng trưởng kinh tế, môi trường đầu tư, hạ tầng và mạng lưới các hiệp định thương mại tự do.
![]() |
| Tăng trưởng GDP ngành sản xuất của ASEAN. Nguồn: Roland Berger |
Việt Nam cũng hưởng lợi từ chiến lược China+1 khi các tập đoàn quốc tế phân tán hoạt động sản xuất để giảm rủi ro chuỗi cung ứng. Điện tử, dệt may, lắp ráp máy móc và thiết bị gia dụng đang là những lĩnh vực sản xuất nổi bật.
Theo dữ liệu được Roland Berger công bố, GDP Việt Nam tăng trưởng bình quân 6,6% trong giai đoạn 2019-2023. Sản xuất đóng góp khoảng 24% GDP, cho thấy vai trò ngày càng lớn của khu vực công nghiệp định hướng xuất khẩu.
Đáng chú ý, Việt Nam đang có cơ hội tiến sâu hơn vào chuỗi giá trị bán dẫn. Tỷ trọng của Việt Nam trong năng lực lắp ráp, kiểm thử và đóng gói bán dẫn toàn cầu được dự báo tăng từ 1% năm 2022 lên 8,5% vào năm 2032.
Dù vậy, phần lớn hoạt động bán dẫn tại Việt Nam hiện vẫn tập trung ở khâu lắp ráp, kiểm thử và đóng gói. Năng lực sản xuất chip giá trị cao, vật liệu bán dẫn và mạng lưới doanh nghiệp cung ứng trong nước còn hạn chế.
Theo đại diện Roland Berger, ba điểm nghẽn lớn cần được cải thiện gồm logistics, tỷ lệ nội địa hóa và nhân lực công nghệ cao. Đây là những yếu tố quyết định khả năng chuyển từ một cứ điểm sản xuất sang trung tâm sản xuất có giá trị gia tăng cao hơn.
Trong đó, nội địa hóa được xem là vấn đề đáng chú ý. Việt Nam đã trở thành cứ điểm sản xuất lớn của điện thoại, máy tính và thiết bị gia dụng, nhưng nhiều nguyên liệu, linh kiện và đầu vào vẫn phải nhập khẩu.
Với bán dẫn, điện tử và các ngành công nghiệp công nghệ cao, nhu cầu nhân lực về kỹ thuật, tự động hóa, robot, cơ khí chính xác và quản trị sản xuất ngày càng tăng. Nếu không nâng chất lượng nguồn nhân lực, lợi thế về chi phí sẽ khó duy trì trong dài hạn.
Ông Trường Bùi cho rằng thập kỷ tới đòi hỏi Việt Nam phải chủ động hơn trong xây dựng năng lực nội tại. Mục tiêu không chỉ là thu hút vốn và đơn hàng quốc tế mà phải tăng khả năng tham gia vào các công đoạn tạo ra giá trị cao hơn trong chuỗi cung ứng toàn cầu.