Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Lào Cai vừa ban hành Kế hoạch số 417/KH-UBND triển khai Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026–2035. Trọng tâm của chương trình là nâng cao năng lực doanh nghiệp trong tỉnh, hình thành mạng lưới nhà cung ứng và từng bước đưa doanh nghiệp địa phương tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất công nghiệp.
Đến năm 2025, công nghiệp chiếm 28,95% GRDP toàn tỉnh. Riêng công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 76,6% giá trị khu vực công nghiệp. Lào Cai hiện có 7 khu công nghiệp đã được thành lập, trong đó 6 khu đã đi vào hoạt động; cùng 23 cụm công nghiệp, với 16 cụm đang hoạt động.
Hệ thống nhà máy hóa chất, phân bón, luyện kim, khai khoáng, năng lượng và chế biến nông, lâm sản đang tạo ra nhu cầu thường xuyên đối với phụ tùng, thiết bị, vật tư, bao bì và các dịch vụ kỹ thuật. Đây chính là thị trường đầu ra đáng kể cho doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ.
Tuy nhiên, phần lớn nhu cầu trên vẫn được đáp ứng từ doanh nghiệp ngoài tỉnh hoặc hàng nhập khẩu. Số doanh nghiệp chuyên sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ tại Lào Cai còn ít, quy mô nhỏ; năng lực đáp ứng về sản lượng, chất lượng, độ chính xác và tiến độ giao hàng còn hạn chế.
Khoảng trống này cho thấy Lào Cai không thiếu nhu cầu thị trường. Vấn đề nằm ở khả năng kết nối đơn hàng với năng lực sản xuất của doanh nghiệp địa phương.
![]() |
| Doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ từng bước nâng năng lực sản xuất, đáp ứng tiêu chuẩn để tham gia chuỗi cung ứng của các nhà máy lớn tại Lào Cai. (Ảnh minh họa do AI tạo nội dung) |
Theo kế hoạch, Lào Cai sẽ ưu tiên phát triển những nhóm sản phẩm gắn trực tiếp với nhu cầu của các ngành công nghiệp đang hoạt động trên địa bàn.
Trong đó có cơ khí chế tạo, phụ tùng thay thế, thiết bị phi tiêu chuẩn; vật liệu, hóa chất phụ trợ và bao bì công nghiệp; thiết bị điện, đo lường, tự động hóa và dịch vụ kỹ thuật. Các sản phẩm phục vụ chế biến nông, lâm sản, thực phẩm và hàng tiêu dùng cũng được xác định là nhóm có khả năng phát triển.
Cách tiếp cận này đưa chương trình công nghiệp hỗ trợ gần hơn với thị trường. Doanh nghiệp được hỗ trợ không chỉ để mở rộng quy mô, mà hướng tới đáp ứng một loại sản phẩm, tiêu chuẩn hoặc đơn hàng cụ thể của các cơ sở sản xuất lớn.
Bên cạnh những ngành có nhu cầu trước mắt, tỉnh Lào Cai sẽ chuẩn bị điều kiện thu hút các dự án sản xuất vật liệu, hóa chất kỹ thuật cao, dây và cáp đồng, vật liệu mới, thiết bị năng lượng tái tạo, sản phẩm phục vụ công nghiệp điện tử và bán dẫn.
Đây là bước chuẩn bị cho giai đoạn phát triển cao hơn, khi công nghiệp hỗ trợ không chỉ đáp ứng nhu cầu thay thế, sửa chữa tại chỗ mà có thể tham gia vào những chuỗi sản xuất đòi hỏi tiêu chuẩn kỹ thuật và giá trị gia tăng lớn hơn.
Trong giai đoạn 2026–2030, Lào Cai đặt mục tiêu hỗ trợ tối thiểu 40 lượt doanh nghiệp nâng cao năng lực; hình thành từ 10–15 doanh nghiệp trở thành nhà cung ứng thường xuyên cho các cơ sở sản xuất.
Tỷ lệ nội địa hóa tại chỗ đối với phụ tùng, vật tư và dịch vụ kỹ thuật của một số ngành công nghiệp chủ lực được phấn đấu nâng lên mức 20–25%. Tỉnh dự kiến đào tạo, bồi dưỡng ít nhất 1.000 lượt cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật và người lao động; thu hút từ 3–5 dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, tạo thêm khoảng 500–1.000 việc làm.
Giai đoạn 2031–2035, số doanh nghiệp được hỗ trợ dự kiến nâng lên khoảng 80–100 lượt; trong đó có 25–30 doanh nghiệp tham gia ổn định vào chuỗi cung ứng. Tỷ lệ nội địa hóa tại chỗ được đặt mục tiêu đạt 30–35%.
Lào Cai cũng hướng tới thu hút lũy kế từ 10–15 dự án công nghiệp hỗ trợ, trong đó có ít nhất 2 dự án về vật liệu, linh kiện hoặc hóa chất kỹ thuật cao; qua đó tạo thêm khoảng 2.000–3.000 việc làm.
Nếu các mục tiêu này được hiện thực hóa, giá trị mang lại không chỉ nằm ở số dự án mới. Quan trọng hơn là khả năng hình thành một lớp doanh nghiệp địa phương có năng lực sản xuất ổn định, đáp ứng tiêu chuẩn và duy trì quan hệ cung ứng lâu dài.
Một điểm đáng chú ý trong kế hoạch là định hướng nghiên cứu hình thành Trung tâm kỹ thuật hỗ trợ phát triển công nghiệp. Trung tâm được tổ chức trên cơ sở sắp xếp lại các đơn vị sự nghiệp hiện có, không làm tăng đầu mối và biên chế.
Đơn vị này dự kiến cung cấp các dịch vụ doanh nghiệp địa phương đang còn thiếu như thử nghiệm, kiểm định, hiệu chuẩn, phân tích, đo lường, thiết kế – chế thử, đào tạo kỹ thuật và tư vấn cải tiến sản xuất.
Đây là những khâu có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng trở thành nhà cung ứng. Một doanh nghiệp có thể sản xuất được sản phẩm nhưng vẫn khó bước vào chuỗi cung ứng nếu chưa chứng minh được chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc tính ổn định theo tiêu chuẩn của bên đặt hàng.
Cùng với hỗ trợ kỹ thuật, tỉnh xác định xây dựng cơ sở dữ liệu về doanh nghiệp và nhu cầu nội địa hóa; tổ chức kết nối cung – cầu, xúc tiến đầu tư; hỗ trợ đổi mới công nghệ, nghiên cứu phát triển, quản trị sản xuất và đào tạo nhân lực.
Kế hoạch số 417/KH-UBND đặt mục tiêu thực hiện một đầu mối tiếp nhận, hướng dẫn doanh nghiệp; công khai quy trình, thời hạn và mẫu hồ sơ. Doanh nghiệp cũng sẽ được hỗ trợ tiếp cận chính sách về thuế, đất đai, tín dụng, khoa học và công nghệ, khuyến công, xúc tiến thương mại và đào tạo lao động.
Mục tiêu được đưa ra là 100% doanh nghiệp có nhu cầu và đủ điều kiện được hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ xác nhận ưu đãi; thời gian giải quyết các hồ sơ thuộc thẩm quyền của tỉnh được rút ngắn tối thiểu 30%.
Sở Công Thương được giao làm cơ quan thường trực, chủ trì xây dựng cơ sở dữ liệu, tổ chức kết nối nhà cung ứng, đào tạo, tư vấn và triển khai các nhiệm vụ phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Chương trình sẽ được thực hiện theo hướng tập trung, có trọng điểm, gắn hoạt động hỗ trợ với nhu cầu và đơn hàng thực tế của doanh nghiệp sản xuất lớn. Nguồn lực triển khai được huy động từ ngân sách trung ương, ngân sách địa phương, các chương trình có liên quan và kinh phí đối ứng của doanh nghiệp.
Từ những mục tiêu của kế hoạch, cơ hội dành cho doanh nghiệp Lào Cai đã rõ hơn: thị trường nằm ngay trong các khu, cụm công nghiệp và những nhà máy đang hoạt động. Khả năng biến nhu cầu đó thành đơn hàng tại chỗ sẽ phụ thuộc vào chất lượng sản phẩm, năng lực quản trị, tiến độ giao hàng và mức độ sẵn sàng đầu tư công nghệ của từng doanh nghiệp.