Ngày 8/6/2026, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Lào Cai ban hành Quyết định số 2000/QĐ-UBND, giao kế hoạch và kinh phí hỗ trợ trồng rừng sản xuất gỗ lớn đợt 1 năm 2026. Tổng diện tích được hỗ trợ là 2.360 ha tại 26 xã, phường, kinh phí 40,12 tỷ đồng.
Bình quân mỗi héc-ta được hỗ trợ khoảng 17 triệu đồng. Các hộ tham gia phải có đất thuộc quy hoạch rừng sản xuất, tự nguyện trồng rừng gỗ lớn và cam kết chỉ khai thác khi cây đạt từ 10 năm tuổi.
Trước đó, phương án giai đoạn 2024-2025 dự kiến hỗ trợ 3.000 ha, kinh phí khoảng 51 tỷ đồng từ nguồn tiền trồng rừng thay thế. Quá trình sắp xếp đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp khiến diện tích, đối tượng thụ hưởng phải rà soát lại, làm kế hoạch bị gián đoạn một thời gian.
Diện tích được giao trong đợt 1 năm 2026 đạt gần 78,7% mục tiêu của phương án cũ. Nguồn vốn đã được nối lại, nhưng 17 triệu đồng/ha mới san sẻ một phần chi phí ban đầu. Người trồng rừng vẫn phải chờ ít nhất 10 năm mới có khoản thu từ gỗ.
Rừng chu kỳ ngắn cho ít tiền hơn nhưng thu hồi vốn sớm. Rừng gỗ lớn có khả năng mang lại giá trị cao hơn, đổi lại người dân phải dành đất, bỏ vốn chăm sóc và chấp nhận rủi ro trong nhiều năm.
Đó là lý do nhiều hộ vẫn khai thác rừng non dù hiểu rằng gỗ lớn có giá trị cao hơn. Quyết định chặt hay giữ cây trước hết là quyết định về thu nhập của gia đình.
Nếu rừng hấp thụ carbon được trả tiền, quãng thời gian chờ bán gỗ có thể tạo ra một khoản thu khác. Người dân vẫn bán gỗ khi hết chu kỳ, còn phần carbon tăng thêm được tính như một dịch vụ do khu rừng cung cấp.
Rừng hấp thụ carbon chưa có nghĩa đã tạo ra tín chỉ. Cây sinh trưởng đến đâu, carbon được hấp thụ và lưu giữ đến đó. Rừng gỗ lớn có chu kỳ dài nên lượng carbon được duy trì trong cây lâu hơn so với rừng khai thác sớm.
Tuy nhiên, diện tích rừng không thể tự động quy đổi thành tín chỉ carbon. Nghị định số 180/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định kết quả giảm phát thải của rừng là lượng giảm phát thải hoặc lượng carbon hấp thụ tăng thêm so với thời điểm tham chiếu. Tín chỉ carbon rừng phải được cấp theo tiêu chuẩn trong nước hoặc quốc tế. Nghị định có hiệu lực từ ngày 15/7/2026.
![]() |
| Theo dõi sinh trưởng và trữ lượng rừng là cơ sở để xác định lượng carbon được hấp thụ, hướng tới hình thành tín chỉ carbon rừng. (Ảnh minh họa) |
Như vậy, lượng carbon đang có sẵn trong một khu rừng và lượng carbon đủ điều kiện cấp tín chỉ là hai khái niệm khác nhau. Phần có thể giao dịch phải được tạo ra từ một hoạt động cụ thể, được đo đạc và so sánh với cách quản lý rừng trước đó.
Nghị định số 180/2026/NĐ-CP đưa hoạt động nâng cao năng suất, kéo dài chu kỳ kinh doanh rừng trồng vào nhóm có thể xây dựng dự án carbon rừng. Quy định này có liên hệ trực tiếp với chương trình rừng gỗ lớn của Lào Cai, nơi người dân cam kết giữ rừng từ 10 năm trở lên.
Nếu trước đây một khu rừng thường được khai thác ở năm thứ sáu hoặc thứ bảy, nay được giữ đến năm thứ mười hoặc lâu hơn, dự án phải xác định lượng carbon tăng thêm trong khoảng thời gian kéo dài ấy. Kết quả sau đó phải được báo cáo, thẩm định và xác nhận theo tiêu chuẩn áp dụng.
Không thể lấy khoảng 300 nghìn ha rừng trồng nguyên liệu của Lào Cai nhân với một hệ số hấp thụ carbon chung rồi tính thành doanh thu. Mỗi loài cây, tuổi rừng, mật độ, điều kiện đất đai và cách chăm sóc cho kết quả khác nhau.
Giá tín chỉ cũng chưa cố định. Doanh thu chỉ có thể xác định khi biết số tín chỉ được cấp, chi phí thực hiện dự án và giá chuyển nhượng theo hợp đồng hoặc trên thị trường.
Có thể bắt đầu từ 2.360 ha được hỗ trợ. So với khoảng 300 nghìn ha rừng trồng nguyên liệu gỗ, diện tích 2.360 ha được hỗ trợ đợt đầu chiếm tỷ lệ nhỏ. Bù lại, đây là diện tích đang được các xã rà soát về vị trí, chủ sử dụng đất và nhu cầu tham gia.
Các hộ cùng nhận một mức hỗ trợ, cùng thực hiện rừng gỗ lớn và cùng cam kết về thời gian khai thác. Những thông tin này thuận lợi cho việc lập hồ sơ ban đầu nếu chủ rừng, doanh nghiệp hoặc cơ quan có thẩm quyền lựa chọn xây dựng dự án carbon.
Một dự án như vậy sẽ phải xác định ranh giới từng khu rừng, loài cây, tuổi cây, thời điểm trồng, phương thức quản lý và chủ thể có quyền hưởng lợi. Trữ lượng carbon cần được theo dõi trong suốt quá trình thực hiện, không phải chỉ đo một lần rồi cấp tín chỉ cho cả chu kỳ.
Với các hộ sở hữu diện tích nhỏ, tổ chức theo vùng sẽ phù hợp hơn so với từng hộ tự xây dựng dự án. Chi phí khảo sát, lập hồ sơ, đo đạc và thẩm định có thể được chia sẻ trên một diện tích đủ lớn.
Nghị định số 180/2026/NĐ-CP cũng cho phép chủ rừng hợp tác với tổ chức, cá nhân để xây dựng dự án; thực hiện đo đạc, báo cáo, thẩm định, cấp tín chỉ và thỏa thuận chia sẻ kết quả.
Nếu được tổ chức ngay từ đầu, 2.360 ha này có thể cung cấp dữ liệu thực tế về chi phí trồng rừng, tốc độ sinh trưởng và lượng carbon tăng thêm khi kéo dài chu kỳ. Kết quả thu được sẽ giúp xác định khả năng nhân rộng, thay vì xây dựng kế hoạch trên những con số ước tính.
![]() |
| Triển khai phát triển vùng quế theo tiêu chuẩn hữu cơ, quản lý rừng bền vững và xây dựng thương hiệu quế Lào Cai |
Quế có thể tạo nhiều khoản thu trên một diện tích. Trong nhóm cây được Lào Cai lựa chọn phát triển rừng gỗ lớn, quế có lợi thế riêng. Toàn tỉnh có khoảng 148 nghìn ha quế, trong đó gần 97 nghìn ha nằm tại các vùng sản xuất tập trung.
Quế cho sản phẩm từ vỏ, cành, lá và gỗ. Thu nhập không bị dồn hết vào lần khai thác cuối cùng. Đặc điểm này giúp người dân bớt áp lực phải chặt cây sớm để thu hồi vốn.
Khoảng 24,2 nghìn ha quế đã được phát triển theo hướng hữu cơ hoặc quản lý rừng bền vững. Đến năm 2030, tỉnh đặt mục tiêu duy trì khoảng 150 nghìn ha quế, sản lượng vỏ khô khoảng 50 nghìn tấn mỗi năm; diện tích được cấp chứng chỉ rừng bền vững và tương đương đạt trên 50 nghìn ha.
Từ 148 nghìn ha lên khoảng 150 nghìn ha không phải mức tăng lớn. Giá trị của ngành quế trong những năm tới sẽ nằm nhiều hơn ở chất lượng nguyên liệu, chế biến, chứng nhận sản phẩm và giá bán.
Nếu tham gia dự án carbon, một héc-ta quế có thể tạo thu nhập từ vỏ, cành, lá, gỗ và phần carbon tăng thêm. Các khoản thu đến vào những thời điểm khác nhau, phù hợp với chu kỳ sản xuất dài của cây rừng.
Song diện tích quế hữu cơ hoặc được chứng nhận quản lý bền vững chưa đương nhiên có tín chỉ carbon. Chứng chỉ hữu cơ xác nhận phương thức sản xuất; chứng chỉ rừng bền vững xác nhận cách quản lý; tín chỉ carbon xác nhận một lượng giảm phát thải hoặc hấp thụ tăng thêm.
Theo Nghị định số 180/2026/NĐ-CP, chủ rừng được sở hữu kết quả giảm phát thải và tín chỉ carbon tạo ra từ dự án do mình thực hiện. Chủ rừng có quyền hợp tác với tổ chức, cá nhân để xây dựng dự án và thỏa thuận chia sẻ tín chỉ theo quy định.
Việc chi trả có thể thực hiện trực tiếp giữa bên mua và bên cung ứng theo hợp đồng hoặc qua sàn giao dịch carbon. Tiền cũng có thể được chi trả gián tiếp thông qua Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng.
Số tiền thu được chưa phải toàn bộ phần người trồng rừng được nhận. Một dự án còn phát sinh chi phí khảo sát, đo đạc, lập báo cáo, thẩm định, đăng ký, quản lý và duy trì hệ thống dữ liệu.
Nếu các khoản chi và tỷ lệ phân chia không được công khai ngay từ đầu, người trực tiếp giữ rừng có thể chỉ nhận được một phần nhỏ. Ngược lại, cách chia sẻ rõ ràng sẽ giúp người dân biết mỗi năm giữ cây mang lại lợi ích gì và khoản tiền nào được thanh toán vào thời điểm nào.
Hồ sơ đất đai, ranh giới rừng và quyền sử dụng cũng phải được xác định chính xác. Một kết quả giảm phát thải đã bán cho bên này không được tiếp tục chuyển nhượng cho bên khác.
Theo Quyết định số 232/QĐ-TTg, Việt Nam thực hiện thí điểm sàn giao dịch carbon trong giai đoạn 2025-2028 và vận hành chính thức từ năm 2029. Mỗi tín chỉ carbon tương ứng một tấn CO₂ hoặc một tấn CO₂ tương đương.
Khoảng thời gian thí điểm cho phép các địa phương chuẩn bị dữ liệu, lựa chọn khu vực có khả năng hình thành dự án và làm rõ quyền lợi của từng nhóm chủ rừng.
Đối với Lào Cai, công việc có giá trị nhất lúc này chưa phải là ước tính rừng có thể bán được bao nhiêu tiền carbon. Điều quan trọng hơn là xây dựng được dữ liệu về diện tích, loài cây, tuổi rừng, quá trình sinh trưởng và lượng carbon tăng thêm.
Nếu dữ liệu được ghi nhận từ khi trồng, việc xác định kết quả sau này sẽ thuận lợi hơn. Nếu chờ đến lúc thị trường vận hành mới quay lại tìm hồ sơ, nhiều thông tin về thời điểm trồng và cách quản lý rừng có thể không còn đầy đủ.
Lào Cai đang có 708 cơ sở chế biến lâm sản, gồm 597 cơ sở chế biến gỗ, 72 cơ sở chế biến quế và 39 cơ sở chế biến lâm sản ngoài gỗ. Nhiều cơ sở vẫn tập trung vào dăm gỗ, ván bóc, ván xẻ, ván thanh và các sản phẩm sử dụng gỗ nhỏ.
Nguồn thu từ carbon, nếu hình thành, có thể hỗ trợ người dân trong thời gian chưa khai thác. Nhưng khoản tiền này không thể thay cho một thị trường tiêu thụ gỗ lớn ổn định.
Người dân chỉ giữ rừng lâu khi tổng thu nhập cao hơn phương án khai thác sớm và đủ bù cho thời gian chờ, chi phí chăm sóc cùng rủi ro thiên tai. Giá gỗ, hợp đồng thu mua và năng lực chế biến sâu vẫn quyết định phần lớn hiệu quả của cả chu kỳ.
Kinh tế rừng sẽ vững hơn khi một héc-ta tạo ra nhiều khoản thu: sản phẩm dưới tán, cành, lá, vỏ, gỗ và carbon. Tiền carbon trả cho phần giá trị môi trường; tiền gỗ trả cho giá trị thương mại của cây khi đến tuổi khai thác.
Khoản hỗ trợ 40,12 tỷ đồng giúp 2.360 ha rừng gỗ lớn có chi phí ban đầu. Tín chỉ carbon có thể trả thêm cho thời gian cây tiếp tục sinh trưởng. Chế biến sâu sẽ nâng giá trị của gỗ khi rừng đến tuổi khai thác.
Khi người trồng rừng nhìn thấy thu nhập trong cả chu kỳ, việc giữ cây lâu hơn mới trở thành lựa chọn kinh tế. Và khi ấy, carbon được lưu giữ trong rừng mới có cơ hội chuyển thành tiền cho người trực tiếp trồng và bảo vệ rừng.