Theo Chi cục Thuế Thương mại điện tử (Cục Thuế), căn cứ Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, Nghị định số 252/2026/NĐ-CP, Nghị định số 68/2026/NĐ-CP và Nghị định số 141/2026/NĐ-CP, ngưỡng doanh thu 1 tỷ đồng được xác định trên tổng doanh thu thực tế của toàn bộ hoạt động kinh doanh trong năm.
![]() |
| Luật Quản lý thuế 2025 (có hiệu lực từ 1/7/2026) quy định 10 hành vi bị xác định là trốn thuế. Nếu có dấu hiệu trốn thuế, cơ quan thuế sẽ tiến hành thu thập thông tin và tạm giữ tài liệu liên quan. |
Điều này có nghĩa doanh thu không chỉ được tính từ cửa hàng hoặc địa điểm kinh doanh trực tiếp mà còn bao gồm doanh thu phát sinh trên sàn thương mại điện tử, nền tảng số và các kênh kinh doanh khác.
Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm từ 1 tỷ đồng trở xuống không phải nộp thuế GTGT, thuế TNCN và không bắt buộc sử dụng hóa đơn điện tử. Nếu đáp ứng điều kiện, người bán vẫn có thể đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử có mã của Cơ quan Thuế hoặc hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền.
Trong khi đó, với doanh thu hằng năm từ 1 tỷ đồng trở lên, hộ kinh doanh phải sử dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối dữ liệu điện tử với Cơ quan Thuế.
Không xuất hóa đơn, mức phạt tăng theo số lượng
Điểm đáng chú ý là Cơ quan Thuế hiện có nhiều nguồn dữ liệu để nhận diện trường hợp doanh thu thực tế không tương xứng với số hóa đơn đã lập.
Dữ liệu khai và nộp thuế được tổng hợp, đối chiếu với dữ liệu do chủ quản nền tảng thương mại điện tử kê khai, nộp thay, dữ liệu hóa đơn điện tử, ngân hàng, tổ chức trung gian thanh toán, ví điện tử, đơn vị vận chuyển và các nguồn liên quan.
Các dữ liệu này được liên kết theo mã số thuế, số định danh cá nhân, số điện thoại, tài khoản nhận tiền, chủ gian hàng và địa chỉ kinh doanh để xác định doanh thu của cùng một chủ thể.
Khi phát hiện doanh thu không phù hợp với số hóa đơn đã lập hoặc thông tin đã kê khai, Cơ quan Thuế có thể yêu cầu người nộp thuế giải trình hoặc thực hiện kiểm tra theo quy định.
Theo Nghị định số 310/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 16/1/2026, hành vi không lập hóa đơn khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ bị xử phạt dựa trên số lượng hóa đơn vi phạm.
Cụ thể, mức phạt đối với tổ chức là từ 1-2 triệu đồng nếu không lập 1 hóa đơn; 2-10 triệu đồng nếu vi phạm từ 2 đến dưới 10 hóa đơn; 10-30 triệu đồng với từ 10 đến dưới 20 hóa đơn; 30-50 triệu đồng với từ 20 đến dưới 50 hóa đơn và 60-80 triệu đồng nếu không lập từ 50 hóa đơn trở lên.
Tuy nhiên, đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, mức phạt được xác định bằng 1/2 mức phạt áp dụng đối với tổ chức, theo nguyên tắc xử phạt tại Nghị định số 125/2020/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 310/2025/NĐ-CP.
Như vậy, trường hợp hộ kinh doanh hoặc cá nhân kinh doanh không lập từ 50 hóa đơn trở lên có thể bị phạt 30-40 triệu đồng.
Rủi ro lớn hơn nếu có dấu hiệu trốn thuế
Không lập hóa đơn không phải lúc nào cũng chỉ dẫn tới xử phạt về hóa đơn.
Nếu cơ quan chức năng xác định việc không lập hóa đơn nhằm làm giảm số thuế phải nộp và hành vi đáp ứng đầy đủ dấu hiệu của trốn thuế, người nộp thuế còn có thể bị xử phạt về hành vi trốn thuế theo Điều 17 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP.
Mức phạt được xác định từ 1-3 lần số tiền thuế trốn, tùy tính chất, mức độ và tình tiết của vụ việc.
Một trường hợp khác cũng cần phân biệt là người kinh doanh có lập hóa đơn nhưng không ghi đầy đủ các nội dung bắt buộc. Với hành vi này, mức phạt đối với tổ chức từ 4-8 triệu đồng; cá nhân, hộ kinh doanh chịu mức phạt bằng 1/2, tương ứng 2-4 triệu đồng.
Với cơ chế quản lý dựa ngày càng nhiều vào dữ liệu từ bán hàng, ngân hàng, thanh toán điện tử và thương mại điện tử, hộ kinh doanh có doanh thu từ 1 tỷ đồng trở lên cần đặc biệt lưu ý việc lập hóa đơn đầy đủ, đúng quy định. Đây không chỉ là yêu cầu về chứng từ mà còn là yếu tố trực tiếp liên quan đến nghĩa vụ thuế và rủi ro pháp lý trong quá trình kinh doanh.