Yêu cầu đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp của cả nước, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa đang đứng trước yêu cầu phải nâng nhanh năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nhưng theo Tiến sĩ Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME), đây cũng là khu vực chịu áp lực lớn về vốn, công nghệ và nhân lực số.
![]() |
| Tiến sĩ Tô Hoài Nam - Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME) cho biết, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp của cả nước, đây cũng là khu vực chịu áp lực lớn trước yêu cầu về vốn, công nghệ, nhân lực số, khả năng đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. |
Thực tế tại doanh nghiệp cho thấy, đầu tư công nghệ có thể tạo ra thay đổi rõ rệt về năng suất, chất lượng và khả năng phát triển sản phẩm.
Tại Công ty cổ phần sữa Con bò vàng Ba Vì, quá trình này bắt đầu từ sự thay đổi phương thức sản xuất. Giám đốc công ty Đào Công Trường cho biết, năm 2007, khi thành lập cơ sở sản xuất bánh sữa, mọi công đoạn đều thủ công. Sữa được nấu bằng bếp truyền thống, bánh cán bằng tay, gói bằng giấy nến đơn giản.
Khi đó, 100 kg sữa tươi qua quá trình nấu cô đặc chỉ làm được khoảng 13 kg bánh sữa.
Từ năm 2019, Công ty cổ phần sữa Con bò vàng Ba Vì ra đời, đánh dấu bước chuyển từ sản xuất thủ công sang chế biến hiện đại.
Hiện doanh nghiệp liên kết với 45 hộ dân, quy mô gần 300 con bò sữa và mỗi ngày thu mua khoảng 5,3 tấn sữa tươi. Công ty ứng dụng công nghệ sấy lạnh ở nhiệt độ âm 40 độ C, giúp giữ nguyên hàm lượng dinh dưỡng trong sữa.
Mới đây, Hà Nội có 9 sản phẩm được công nhận OCOP 5 sao cấp quốc gia, riêng Công ty cổ phần sữa Con bò vàng Ba Vì có 5 sản phẩm đạt chuẩn. Doanh nghiệp cũng có 15 sản phẩm đạt OCOP 4 sao cấp thành phố.
Câu chuyện này cho thấy công nghệ không chỉ là khoản đầu tư vào máy móc. Với doanh nghiệp nhỏ, đó còn là cách thay đổi năng suất, chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp khó khăn trong tiếp cận tín dụng
Theo Tiến sĩ Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME), doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp của cả nước; khu vực kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 51% GDP, tạo việc làm cho hơn 40 triệu lao động.
Tuy nhiên, đây cũng là khu vực chịu áp lực lớn trước yêu cầu về vốn, công nghệ, nhân lực số, khả năng đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Đây là một nghịch lý đáng chú ý. Doanh nghiệp nhỏ và vừa là lực lượng đông đảo nhất trong cộng đồng doanh nghiệp, nhưng chính quy mô nhỏ lại khiến khả năng dành nguồn lực cho những khoản đầu tư mang tính dài hạn bị hạn chế.
Khảo sát của VINASME và nhiều tổ chức đại diện doanh nghiệp cho thấy khoảng 60%-70% doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp khó khăn trong tiếp cận tín dụng. Trong khi đó, chi phí đầu tư cho phần mềm quản trị, dữ liệu số, bảo mật thông tin, tự động hóa, nền tảng thương mại điện tử, truy xuất nguồn gốc, ứng dụng trí tuệ nhân tạo… đều tương đối lớn so với năng lực tài chính của doanh nghiệp nhỏ.
Nhiều doanh nghiệp vẫn phải ưu tiên duy trì dòng tiền vận hành, chi phí lao động và đơn hàng trước khi nghĩ tới đầu tư công nghệ.
Điều này khiến yêu cầu chuyển đổi số và đổi mới công nghệ không đơn thuần nằm ở việc doanh nghiệp có muốn chuyển đổi hay không, mà còn phụ thuộc vào khả năng bố trí nguồn lực để chuyển đổi.
Cần một hệ sinh thái hỗ trợ thay vì doanh nghiệp tự xoay xở
Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã được xác định là những động lực quan trọng đối với năng suất lao động, năng lực cạnh tranh, chất lượng tăng trưởng và khả năng tự chủ của nền kinh tế.
![]() |
| Chuyển đổi số chính là cơ hội cho doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể phát triển nhanh hơn, nếu như có thể xác định được những lợi ích, chi phí đầu tư và tìm hiểu cách chuyển đổi số bắt đầu từ đâu. |
Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân tạo thành trục chính sách quan trọng, trong đó khoa học, công nghệ được coi là động lực then chốt; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; doanh nghiệp là lực lượng trực tiếp đưa công nghệ vào sản xuất, kinh doanh và thị trường.
Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, khoảng cách từ chủ trương đến khả năng triển khai thực tế vẫn cần được thu hẹp bằng những cơ chế hỗ trợ cụ thể.
Tiến sĩ Tô Hoài Nam cho rằng cần hình thành hệ sinh thái tài chính cho đổi mới công nghệ và chuyển đổi số của doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh theo hướng kết hợp giữa Nhà nước, ngân hàng thương mại, quỹ đầu tư và doanh nghiệp công nghệ.
Theo ông, cần hình thành Quỹ hỗ trợ chuyển đổi số doanh nghiệp nhỏ và vừa ở quy mô quốc gia và cấp vùng; hỗ trợ phát triển các nền tảng dùng chung, hình thành trung tâm hỗ trợ chuyển đổi số tại các vùng kinh tế trọng điểm, có chức năng tư vấn, đào tạo, kiểm thử giải pháp công nghệ và triển khai thực tế.
Đề xuất này đặt bài toán chuyển đổi số của doanh nghiệp trong một cách tiếp cận rộng hơn. Doanh nghiệp không thể tự mình giải quyết đồng thời các vấn đề về vốn, công nghệ, nhân lực và tư vấn chuyên môn.
Một hệ sinh thái hỗ trợ đủ mạnh có thể giúp giảm chi phí đầu tư ban đầu, hạn chế rủi ro khi lựa chọn công nghệ và rút ngắn thời gian đưa giải pháp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Tiến sĩ Nguyễn Duy Tuấn (Đại học Kinh tế quốc dân) cũng cho rằng phần lớn doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ nên không đủ nguồn lực dành cho nghiên cứu dài hạn.
Theo ông, chính sách hỗ trợ chuyển đổi số cho doanh nghiệp nhỏ và vừa cần thiết thực. Nhiều doanh nghiệp không cần bắt đầu bằng công nghệ phức tạp mà có thể đi từ những bước cơ bản như kế toán số, quản trị kho, hóa đơn điện tử, thương mại điện tử, marketing số, an ninh mạng và quản trị dữ liệu khách hàng.
Nhà nước có thể hỗ trợ thông qua voucher chuyển đổi số, nền tảng dùng chung, tư vấn chuẩn hóa và đào tạo chủ doanh nghiệp.
Nâng sức cạnh tranh từ những bước vừa sức
Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, chuyển đổi số không nhất thiết bắt đầu bằng những hệ thống công nghệ đắt tiền. Quan trọng hơn là xác định đúng khâu cần cải thiện và lựa chọn giải pháp phù hợp với quy mô, dòng tiền và mô hình kinh doanh.
Câu chuyện của Công ty cổ phần sữa Con bò vàng Ba Vì cho thấy khi công nghệ được đưa vào đúng công đoạn, giá trị tạo ra không chỉ nằm ở thiết bị mà còn thể hiện qua chất lượng sản phẩm và khả năng mở rộng thị trường.
Ở quy mô rộng hơn, nếu hàng triệu doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể tiếp cận những giải pháp công nghệ phù hợp với chi phí hợp lý, tác động cộng hưởng sẽ lớn hơn nhiều so với việc chỉ tập trung vào một số doanh nghiệp có tiềm lực mạnh.
Mục tiêu xây dựng mô hình phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ khó thành công nếu khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa cùng hàng triệu hộ kinh doanh đứng ngoài tiến trình này.
Do đó, cần xây dựng một hệ sinh thái rộng gồm doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp dịch vụ, doanh nghiệp công nghệ, doanh nghiệp hỗ trợ, startup và hộ kinh doanh chuyển đổi lên khu vực chính thức. Khi đó, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số mới có thể gắn chặt hơn với sản xuất, kinh doanh, tạo thêm năng suất và sức cạnh tranh cho khu vực doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa.