Thứ hai 30/03/2026 00:44
Hotline: 024.355.63.010
Góc nhìn Chuyên gia

Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao: Nâng cao chất lượng lúa và thương hiệu gạo Việt Nam

Lợi ích lớn nhất của "Đề án phát triển bền vững một triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đến năm 2030" là nâng cao được chất lượng lúa và thương hiệu gạo Việt Nam, theo TS. Trần Minh Hải - Phó Hiệu trưởng Trường Chính sách công và Phát triển nông thôn.
Bài liên quan
Triển khai Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao: Phó Thủ tướng Trần Lưu Quang kêu gọi hợp tác quốc tế và tuân thủ kế hoạch
Việt Nam đang đứng ở thời điểm vàng để thực hiện đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp
Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Đào Minh Tú: Đồng bộ chính sách tín dụng ưu đãi cho Đề án 1 triệu ha lúa

Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao: Nâng cao chất lượng lúa và thương hiệu gạo Việt Nam
TS. Trần Minh Hải - Phó Hiệu trưởng Trường Chính sách công và Phát triển nông thôn

Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao được Bộ NN&PTNT phối hợp các địa phương, tổ chức, DN triển khai 7 mô hình thí điểm tại 5 tỉnh, thành vùng ĐBSCL là Đồng Tháp, Kiên Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng, Trà Vinh. Bước đầu, kết quả từ các mô hình thí điểm này đã mang lại hiệu quả cao, tăng lợi nhuận cho nông dân và giảm phát thải trong sản xuất lúa.

Phát triển hợp tác xã là nền tảng cốt lõi cho Đề án

Việc phát triển các hợp tác xã (HTX) nông nghiệp được xác định là yếu tố cốt lõi để thực hiện thành công Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Đây là nhận định của ông Trần Minh Hải, Phó Hiệu trưởng Trường Chính sách công và Phát triển nông thôn, trong một hội thảo gần đây.

Ông Hải nhấn mạnh, việc gia tăng số lượng thành viên HTX không chỉ là một giải pháp để mở rộng diện tích sản xuất mà còn tạo điều kiện áp dụng cơ giới hóa và công nghệ hiện đại vào nông nghiệp. Tuy nhiên, thực trạng hiện nay cho thấy, mỗi HTX ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) chỉ có trung bình khoảng 80 thành viên, thấp hơn nhiều so với mức trung bình cả nước là 200 thành viên và con số 1.500 thành viên tại Thái Lan.

Để khắc phục hạn chế này, ông Hải đề xuất xây dựng các HTX vừa, với quy mô từ 50-100 thành viên. Mô hình này không chỉ phù hợp với yêu cầu của Luật HTX 2023 mà còn giúp nâng cao năng lực sản xuất, đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường trong và ngoài nước.

Theo ông Hải, khi các HTX trở thành những tổ chức mạnh, quản lý hiệu quả và đáp ứng tốt nhu cầu thị trường, chúng sẽ phát huy vai trò cốt lõi trong nền kinh tế nông thôn hiện đại. Những HTX đủ mạnh có thể xây dựng và phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp, tạo ra sản phẩm chất lượng cao, góp phần cải thiện đời sống thành viên và nâng cao hiệu quả sản xuất.

Ông cũng nhấn mạnh rằng sự phát triển của HTX cần song hành với các chính sách hỗ trợ từ phía Nhà nước và các tổ chức tài chính. Việc tạo điều kiện thuận lợi cho sự liên kết giữa HTX và doanh nghiệp (DN) là rất cần thiết.

Để khuyến khích các DN hợp tác với HTX, Nhà nước cần hỗ trợ vốn, giảm lãi suất và triển khai các chính sách ưu đãi.

Ví dụ, tại Cần Thơ, UBND thành phố đã giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nghiên cứu, tham mưu các chính sách hỗ trợ lãi suất cho HTX và nông dân trong vùng Đề án 1 triệu ha.

Bên cạnh đó, ông Hải đề xuất các ngân hàng cần linh hoạt hơn trong việc giải ngân. Việc cho vay thông qua DN liên kết hoặc các tổ chức trung gian đại diện nông dân có thể là giải pháp tối ưu, giúp giảm thiểu rủi ro và tăng hiệu quả sử dụng vốn. Đây được xem là mô hình thế chấp theo chuỗi, đảm bảo sự an toàn cho các bên tham gia.

Đề án 1 triệu ha lúa tập trung vào giảm phát thải, không chỉ là tín chỉ carbon

Việc Ngân hàng Thế giới (WB) cam kết mua tín chỉ carbon với giá 10 USD/tín chỉ (tương đương 1 tấn carbon) đã làm dấy lên những kỳ vọng về khả năng mang lại nguồn thu nhập lớn từ tín chỉ carbon cho nông dân Việt Nam. Theo cách tính sơ bộ, với 1 triệu ha lúa, nông dân có thể thu về khoảng 100 triệu USD mỗi năm. Tuy nhiên, theo TS. Trần Minh Hải, quan điểm này đang bị "thổi phồng" và hiểu sai bản chất của đề án.

TS. Trần Minh Hải khẳng định: "Đề án 1 triệu ha mà các tỉnh đang triển khai không chỉ nhằm vào việc bán tín chỉ carbon. Đó là một cách hiểu chưa đúng". Ông giải thích, cơ chế cốt lõi của đề án là áp dụng ba quy trình giảm phát thải do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ban hành, nhằm giảm lượng khí nhà kính phát sinh từ hoạt động sản xuất lúa gạo.

Ông Hải đưa ra tính toán cụ thể: Mỗi ha lúa mỗi vụ thường thu hoạch được khoảng 8 tấn lúa, đồng nghĩa với việc phát thải khoảng 8 tấn carbon. Nếu áp dụng đầy đủ các quy trình giảm phát thải, có thể giảm được tối đa 30%, tương đương 2,5 tấn carbon. Tuy nhiên, giá tín chỉ carbon trên thị trường vẫn chưa được xác định rõ ràng. Bộ Nông nghiệp đang làm việc với các tổ chức quốc tế, và mức giá dự kiến có thể là 20 USD/tín chỉ.

"Nếu giá là 20 USD, với 2 tấn carbon giảm được, nông dân sẽ chỉ thu về 40 USD mỗi ha mỗi vụ, tương đương khoảng 960.000 đồng. Như vậy, nếu chỉ tập trung vào bán tín chỉ carbon để tạo nguồn thu thì lợi nhuận sẽ rất hạn chế", ông Hải nhấn mạnh.

Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao: Nâng cao chất lượng lúa và thương hiệu gạo Việt Nam
Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao: Nâng cao chất lượng lúa và thương hiệu gạo Việt Nam

Theo TS. Hải, mục tiêu quan trọng nhất của đề án 1 triệu ha lúa là xây dựng một nền nông nghiệp bền vững, giảm chi phí đầu vào, giảm tác động tiêu cực đến môi trường và sức khỏe con người. Điều này sẽ góp phần nâng cao chất lượng lúa gạo và gia tăng giá trị thương hiệu gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Đề án cũng đặt trọng tâm vào việc tổ chức lại sản xuất trên quy mô lớn, đầu tư đồng bộ hạ tầng, tăng cường liên kết giữa hợp tác xã và doanh nghiệp. "Giảm chi phí trung gian và tăng thu nhập cho người nông dân mới là giá trị cốt lõi của đề án", TS. Hải phân tích.

Ông nhấn mạnh rằng việc áp dụng các phương pháp canh tác bền vững không chỉ mang lại lợi ích tài chính ngắn hạn mà còn tạo ra thặng dư lâu dài cho nền kinh tế nông nghiệp. Điều này bao gồm việc cải thiện hạ tầng, nâng cao năng lực sản xuất và bảo vệ môi trường, góp phần thúc đẩy vị thế gạo Việt Nam trên bản đồ xuất khẩu toàn cầu.

Tin bài khác
Iran - đất nước Ba Tư đứng ở "yết hầu dầu mỏ" của thế giới

Iran - đất nước Ba Tư đứng ở "yết hầu dầu mỏ" của thế giới

Vì sao Iran luôn khiến thế giới phải dõi theo? Không chỉ vì đây là một quốc gia lớn ở Tây Á, mà còn bởi Iran đứng đúng ở nơi bản đồ dầu mỏ và hàng hải gặp nhau. Từ eo biển Hormuz, từ nguồn dầu khí dồi dào, cho tới chiều sâu của một đất nước Ba Tư lâu đời, Iran là một quốc gia vừa cổ kính vừa hiện đại, vừa giàu nội lực vừa luôn phải sống giữa những sức ép bao quanh.
Bài học kinh doanh từ bà bán xôi: Vì sao mô hình nhỏ vẫn sống khỏe?

Bài học kinh doanh từ bà bán xôi: Vì sao mô hình nhỏ vẫn sống khỏe?

Không học kinh tế bài bản vẫn có thể vận hành một mô hình bán hàng hiệu quả. Từ câu chuyện một bà bán xôi, có thể thấy rõ cách kinh tế vỉa hè vận hành theo những nguyên lý rất thực tế: tối ưu chi phí, kiểm soát dòng tiền, định vị sản phẩm, giữ chân khách hàng và cũng bộc lộ rõ giới hạn nếu muốn mở rộng quy mô.
TS. Trần Đức Diễn: Bộ tiêu chuẩn V-REP là kim chỉ nam nâng tầm nghề môi giới

TS. Trần Đức Diễn: Bộ tiêu chuẩn V-REP là kim chỉ nam nâng tầm nghề môi giới

Tại hội thảo góp ý dự thảo V-REP, TS. Trần Đức Diễn nhấn mạnh việc xây dựng bộ tiêu chuẩn nghề nghiệp là bước đi nền tảng để chuẩn hóa, nâng tầm và lấy lại niềm tin cho nghề môi giới.
Chủ tịch Abraham Nguyễn Quang Huy: Muốn có thương hiệu quốc gia mạnh phải kiến tạo một thế hệ “doanh nhân dân tộc”

Chủ tịch Abraham Nguyễn Quang Huy: Muốn có thương hiệu quốc gia mạnh phải kiến tạo một thế hệ “doanh nhân dân tộc”

Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn hội nhập sâu và cạnh tranh toàn cầu ngày càng khốc liệt, bài toán xây dựng thương hiệu quốc gia không còn là câu chuyện riêng của từng doanh nghiệp.
PGS.TS Vũ Sỹ Cường: Gỡ nút thắt vốn khoa học công nghệ để tạo động lực tăng trưởng

PGS.TS Vũ Sỹ Cường: Gỡ nút thắt vốn khoa học công nghệ để tạo động lực tăng trưởng

PGS.TS Vũ Sỹ Cường cho biết khoa học công nghệ vẫn “đói vốn”, đòi hỏi những cải cách mạnh mẽ về cơ chế, tư duy quản lý và cách thức huy động nguồn lực từ Nhà nước, doanh nghiệp và thị trường.
PGS.TS Trần Đình Thiên: Thể chế phải đi trước để mở đường tăng trưởng mới

PGS.TS Trần Đình Thiên: Thể chế phải đi trước để mở đường tăng trưởng mới

Theo PGS. TS Trần Đình Thiên, Việt Nam cần thay đổi mô hình phát triển, trong đó thể chế phải đi trước mở đường để nuôi dưỡng động lực tăng trưởng mới bền vững.
Vì sao vùng Vịnh ngày càng quan trọng với thương mại toàn cầu?

Vì sao vùng Vịnh ngày càng quan trọng với thương mại toàn cầu?

Theo Giáo sư Marc L. Busch (Trường Ngoại giao Edmund A Walsh thuộc Đại học Georgetown), trong một thế giới mà thương mại không còn vận hành thuần túy theo logic hiệu quả chi phí, vùng Vịnh đang nổi lên như một điểm tựa chiến lược mới của chuỗi cung ứng toàn cầu. Từ eo biển Hormuz đến hạ tầng AI, khu vực này ngày càng giữ vai trò then chốt trong dòng chảy năng lượng, vốn, dữ liệu và thương mại quốc tế.
Doanh nghiệp tiếp tục phản biện quy trình đo khí thải xe diesel

Doanh nghiệp tiếp tục phản biện quy trình đo khí thải xe diesel

Tranh luận quanh quy trình kiểm định khí thải với xe diesel vẫn chưa hạ nhiệt khi phía quản lý giữ nguyên phương pháp thử, còn doanh nghiệp và nhiều chủ xe tiếp tục bày tỏ lo ngại về tác động với động cơ, nhất là nhóm xe đã khai thác nhiều năm. Điều họ muốn không phải nới chuẩn khí thải, mà là một quy trình đủ chặt chẽ nhưng cũng phải thuyết phục, minh bạch và tạo được đồng thuận trong thực tế.
CEO Lê Quốc Vinh: Tại sao Tổng thống Trump bất ngờ “phanh gấp”?

CEO Lê Quốc Vinh: Tại sao Tổng thống Trump bất ngờ “phanh gấp”?

Một phát ngôn cứng rắn về khả năng tấn công hạ tầng điện dân sinh, rồi ngay lập tức “phanh lại” bằng tín hiệu đàm phán, đã khiến giới quan sát quốc tế bối rối trước động thái mới của Tổng thống Donald Trump. Nhưng theo Nhà báo Lê Quốc Vinh, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc của Le Group of Companies, đằng sau sự mâu thuẫn tưởng chừng phi lý ấy lại là một logic rất nhất quán: cả Mỹ và Iran đang tìm cách… xuống thang mà không mất thể diện, trong khi thế giới thì đứng sát một “ngưỡng không thể quay đầu”. Cùng Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập làm rõ quan điểm, góc nhìn của chuyên gia, CEO Lê Quốc Vinh.
TS. Nguyễn Minh Phong: Tái cấu trúc nguồn vốn để đạt tăng trưởng hai con số bền vững

TS. Nguyễn Minh Phong: Tái cấu trúc nguồn vốn để đạt tăng trưởng hai con số bền vững

Trước mục tiêu tăng trưởng hai con số, đặt ra yêu cầu cấp thiết về tái cấu trúc nguồn vốn. TS. Nguyễn Minh Phong nhấn mạnh, không chỉ cần nhiều vốn hơn mà còn phải phân bổ hiệu quả, minh bạch và bền vững.
Doanh nghiệp cần chủ động ứng phó rủi ro khi hãng tàu dừng hành trình

Doanh nghiệp cần chủ động ứng phó rủi ro khi hãng tàu dừng hành trình

Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam khuyến nghị doanh nghiệp tăng cường quản trị rủi ro trong bối cảnh địa chính trị phức tạp, đặc biệt với tình huống hãng tàu chấm dứt hành trình gây gián đoạn chuỗi cung ứng.
PGS. TS Nguyễn Thường Lạng: Phối hợp tài khóa - tiền tệ thúc đẩy tăng trưởng cao trong giai đoạn 2026 - 2030

PGS. TS Nguyễn Thường Lạng: Phối hợp tài khóa - tiền tệ thúc đẩy tăng trưởng cao trong giai đoạn 2026 - 2030

Theo PGS. TS Nguyễn Thường Lạng mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030, đòi hỏi phối hợp chặt chẽ chính sách tài khóa và tiền tệ nhằm huy động, phân bổ hiệu quả nguồn lực.
PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Trung tâm tài chính quốc tế mở khóa dòng vốn tăng trưởng mới

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Trung tâm tài chính quốc tế mở khóa dòng vốn tăng trưởng mới

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân nhấn mạnh vai trò trung tâm tài chính quốc tế tại TP.HCM trong thu hút vốn toàn cầu, giảm phụ thuộc tín dụng ngân hàng, tạo nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số bền vững.
TS. Nguyễn Quốc Việt: Chuyển dịch cấu trúc vốn, giảm phụ thuộc tín dụng ngân hàng bền vững

TS. Nguyễn Quốc Việt: Chuyển dịch cấu trúc vốn, giảm phụ thuộc tín dụng ngân hàng bền vững

TS. Nguyễn Quốc Việt nhấn mạnh yêu cầu tái cấu trúc nguồn vốn, phát triển thị trường vốn và xây dựng hệ sinh thái tài chính hiện đại nhằm giảm dần sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng hiện nay.
Doanh nghiệp Việt đang bỏ quên “mỏ vàng” giá trị nhất của mình?

Doanh nghiệp Việt đang bỏ quên “mỏ vàng” giá trị nhất của mình?

Trong kỷ nguyên kinh tế số, giá trị doanh nghiệp không còn chủ yếu nằm ở nhà xưởng hay máy móc. Ngày càng nhiều nghiên cứu cho thấy phần lớn giá trị doanh nghiệp đến từ các tài sản vô hình như tri thức, dữ liệu, thương hiệu và sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa nhận diện đầy đủ những nguồn lực này.