Trong cơ cấu kinh tế nông, lâm nghiệp của Lào Cai, cây quế không đơn thuần là một loại cây trồng mang lại thu nhập cho người dân, mà đang trở thành một ngành hàng có khả năng kết nối sản xuất nông nghiệp với công nghiệp chế biến, thương mại và xuất khẩu.
Theo số liệu được lãnh đạo tỉnh Lào Cai công bố tại sự kiện khánh thành Nhà máy sản xuất và chế biến quế hữu cơ Bảo Thắng ngày 4/11, toàn tỉnh Lào Cai hiện có hơn 147.500 ha quế, trong đó diện tích tập trung, chuyên canh khoảng 97.000 ha; diện tích được cấp chứng nhận hữu cơ trên 24.000 ha. Sản lượng vỏ quế khô hằng năm đạt hơn 45.000 tấn, tinh dầu quế khoảng 1.000 tấn.
Những con số này cho thấy Lào Cai có nền tảng vùng nguyên liệu tương đối lớn, đủ điều kiện để hình thành các chuỗi sản xuất và chế biến quy mô công nghiệp. Đặc biệt, lợi thế của cây quế không chỉ nằm ở vỏ cây. Cành, lá, thân và các bộ phận khác cũng có thể được khai thác làm nguyên liệu cho sản xuất tinh dầu, đồ thủ công, vật liệu và các sản phẩm có giá trị thương mại.
Đây chính là điểm khác biệt của cây quế so với nhiều loại cây trồng chỉ có một hoặc một vài sản phẩm tiêu thụ chính. Nếu được tổ chức sản xuất và chế biến hợp lý, một vùng nguyên liệu quế có thể cung cấp đầu vào cho nhiều ngành công nghiệp khác nhau, từ thực phẩm, đồ uống đến hương liệu, mỹ phẩm và các sản phẩm chăm sóc cá nhân.
Cây quế còn có ý nghĩa đặc biệt đối với kinh tế miền núi. Việc trồng, chăm sóc, thu hoạch và sơ chế quế tạo việc làm cho người dân tại chỗ, góp phần khai thác đất đai, phát triển kinh tế hộ gia đình và tạo nguồn thu ổn định hơn cho nhiều địa bàn nông thôn.
Tuy nhiên, cần nhìn nhận rằng diện tích lớn và sản lượng cao không tự động chuyển thành giá trị kinh tế cao. Nếu phần lớn nguyên liệu vẫn được tiêu thụ dưới dạng thô hoặc sơ chế, giá trị gia tăng chủ yếu sẽ được tạo ra ở những công đoạn chế biến, phân phối và thương mại phía sau. Khi đó, người trồng quế dù nắm giữ khâu sản xuất quan trọng nhất nhưng chưa chắc đã được hưởng tương xứng với giá trị cuối cùng của sản phẩm.
Vì vậy, vấn đề đặt ra đối với Lào Cai không chỉ là phát triển thêm diện tích quế, mà quan trọng hơn là tổ chức lại toàn bộ chuỗi giá trị, từ giống, vùng trồng, thu hoạch, chế biến đến tiêu thụ.
![]() |
| Lãnh đạo tỉnh Lào Cai và đại biểu tham dự khánh thành Nhà máy sản xuất và chế biến quế hữu cơ Bảo Thắng thuộc Công ty Cổ phần Sản xuất và Xuất khẩu Quế hồi Việt Nam (VINASAMEX). (Ảnh: Phan Văn Tuấn) |
Một trong những hạn chế của ngành hàng quế tại nhiều địa phương là hoạt động sản xuất và chế biến chưa phát triển đồng đều. Sơ chế vẫn chiếm tỷ trọng đáng kể, trong khi các sản phẩm có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao chưa được khai thác tương xứng với tiềm năng nguyên liệu.
Trong chuỗi giá trị quế, sự khác biệt giữa bán nguyên liệu và phát triển sản phẩm chế biến sâu là rất lớn. Thay vì chỉ tiêu thụ vỏ quế khô, doanh nghiệp có thể đầu tư công nghệ để sản xuất tinh dầu, bột quế, chiết xuất tự nhiên và các nguyên liệu phục vụ công nghiệp thực phẩm, mỹ phẩm, hương liệu.
Ở những công đoạn chuyên sâu hơn, việc chiết tách, phân đoạn và chuẩn hóa hoạt chất còn mở ra khả năng cung cấp nguyên liệu cho các nhà sản xuất có yêu cầu kỹ thuật cao. Giá trị sản phẩm khi đó không chỉ phụ thuộc vào khối lượng nguyên liệu mà còn phụ thuộc vào chất lượng, độ tinh khiết, tiêu chuẩn kỹ thuật, khả năng truy xuất nguồn gốc và uy tín của nhà cung cấp.
Việc Công ty Cổ phần Sản xuất và Xuất khẩu Quế hồi Việt Nam (VINASAMEX) đầu tư các cơ sở chế biến tại Lào Cai, trong đó có Nhà máy sản xuất và chế biến quế hữu cơ Bảo Thắng với tổng vốn đăng ký 411,6 tỷ đồng, cho thấy khu vực doanh nghiệp đã bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến tiềm năng chế biến sâu của địa phương.
Theo thiết kế, nhà máy Bảo Thắng có công suất chế biến 10.000 tấn gia vị hữu cơ mỗi năm, năng lực sản xuất tinh dầu khoảng 250 tấn/năm. Ngoài quế, doanh nghiệp còn định hướng chế biến hồi, gừng, nghệ, ớt, sả, tiêu và các loại gia vị phù hợp.
Những khoản đầu tư như vậy có thể tạo thêm năng lực chế biến cho địa phương, nhưng điều quan trọng hơn là khả năng hình thành một hệ sinh thái doanh nghiệp tham gia ngành hàng. Lào Cai cần khuyến khích không chỉ các dự án quy mô lớn mà cả những doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư vào các công đoạn như sơ chế đạt chuẩn, sấy, nghiền, chưng cất tinh dầu, đóng gói, bảo quản và phát triển sản phẩm thương mại.
Đây cũng là cơ hội để doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia vào chuỗi cung ứng với những lĩnh vực phù hợp năng lực và nguồn vốn. Thay vì phải đầu tư một nhà máy lớn, doanh nghiệp có thể lựa chọn một công đoạn chuyên biệt, hợp tác với hợp tác xã và kết nối đầu ra với các nhà chế biến, xuất khẩu.
Khi nhiều chủ thể cùng tham gia, giá trị kinh tế tạo ra sẽ không chỉ tập trung tại một vài nhà máy mà có thể lan tỏa đến nhiều khu vực sản xuất và dịch vụ của địa phương.
Nếu công nghiệp chế biến quyết định khả năng nâng giá trị sản phẩm thì chất lượng vùng nguyên liệu lại quyết định sức cạnh tranh của toàn ngành hàng.
Với hơn 24.000 ha quế đã được cấp chứng nhận hữu cơ theo số liệu công bố tại buổi lễ, Lào Cai có cơ sở để phát triển phân khúc quế đáp ứng các yêu cầu cao hơn của thị trường. Tuy nhiên, chứng nhận hữu cơ mới là một điều kiện quan trọng, chưa phải bảo đảm duy nhất cho khả năng tiêu thụ sản phẩm.
Doanh nghiệp cần vùng nguyên liệu có quy hoạch, hồ sơ quản lý đầy đủ, quy trình canh tác được kiểm soát và khả năng truy xuất đến từng khu vực sản xuất. Người dân phải được hướng dẫn kỹ thuật, kiểm soát việc sử dụng vật tư nông nghiệp, thu hoạch và bảo quản đúng yêu cầu.
Đặc biệt, cần tránh tình trạng phát triển vùng trồng theo phong trào, thiếu sự gắn kết với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp và thị trường. Một vùng quế có diện tích lớn nhưng chất lượng không đồng đều, sản xuất phân tán, thiếu hồ sơ truy xuất sẽ khó đáp ứng yêu cầu của những đơn hàng có giá trị cao.
Trong quá trình này, hợp tác xã cần được xác định là cầu nối quan trọng giữa doanh nghiệp và nông dân. Thông qua hợp tác xã, các hộ sản xuất có thể liên kết diện tích, thống nhất quy trình kỹ thuật, tổ chức thu hoạch, sơ chế và đàm phán hợp đồng tiêu thụ.
Mô hình liên kết cần chuyển từ thu mua theo thời điểm sang hợp tác dài hạn, trong đó trách nhiệm và quyền lợi của mỗi bên được xác định rõ. Doanh nghiệp có trách nhiệm cung cấp thông tin thị trường, hướng dẫn tiêu chuẩn và xây dựng cơ chế thu mua minh bạch. Hợp tác xã tổ chức sản xuất, giám sát chất lượng và thực hiện các cam kết. Người dân bảo đảm quy trình canh tác, chất lượng nguyên liệu và tiến độ cung ứng.
VINASAMEX hiện liên kết trực tiếp với hơn 4.000 hộ nông dân, phát triển trên 7.700 ha vùng nguyên liệu hữu cơ. Đây là một ví dụ về cách doanh nghiệp tham gia tổ chức vùng trồng và kết nối người sản xuất với thị trường.
Tuy nhiên, thước đo quan trọng nhất của mô hình liên kết không chỉ là số hộ tham gia hay diện tích được quản lý, mà phải là mức giá thu mua, tính ổn định của đầu ra, thu nhập thực tế của người dân và khả năng duy trì sản xuất lâu dài.
Người trồng quế cần được hưởng lợi từ chính giá trị mà họ tạo ra. Khi có đầu ra ổn định, giá thu mua hợp lý và được hỗ trợ về kỹ thuật, người dân sẽ có động lực duy trì vùng nguyên liệu, tuân thủ tiêu chuẩn và đầu tư trở lại cho sản xuất.
![]() |
| Toàn cảnh Nhà máy sản xuất và chế biến quế hữu cơ Bảo Thắng. (Ảnh: Phan Văn Tuấn) |
Một ngành hàng có giá trị cao không thể chỉ dựa vào sản lượng. Chất lượng, thương hiệu và năng lực tiếp cận thị trường mới là những yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh lâu dài.
Đối với quế Lào Cai, cần từng bước hình thành hệ thống nhận diện sản phẩm gắn với vùng nguyên liệu, điều kiện sinh thái và tiêu chuẩn sản xuất. Mỗi sản phẩm khi đưa ra thị trường cần có thông tin rõ ràng về nguồn gốc, quy trình sản xuất, chất lượng và đơn vị chịu trách nhiệm.
Cùng với đó, cần khuyến khích doanh nghiệp phát triển thương hiệu riêng, đa dạng hóa sản phẩm và tăng tỷ trọng hàng hóa chế biến có giá trị cao. Thay vì chỉ cạnh tranh bằng giá nguyên liệu, doanh nghiệp cần hướng đến năng lực cung ứng ổn định, đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật và yêu cầu của khách hàng.
Đây cũng là hướng mở rộng thị trường cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Những doanh nghiệp có thế mạnh về thương mại, thiết kế bao bì, phân phối, thương mại điện tử và phát triển sản phẩm có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị quế mà không nhất thiết phải sở hữu vùng trồng hay nhà máy chế biến lớn.
Để làm được điều đó, cần có sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp và các tổ chức hỗ trợ xúc tiến thương mại. Việc kết nối với nhà nhập khẩu, tham gia hội chợ chuyên ngành, tìm hiểu tiêu chuẩn thị trường và xây dựng kênh phân phối cần được thực hiện thường xuyên, có trọng tâm.
Bên cạnh cơ hội, ngành hàng quế cũng phải tính đến những rủi ro về biến động giá, chi phí vận chuyển, yêu cầu kỹ thuật, tiêu chuẩn môi trường và sự cạnh tranh từ các vùng sản xuất khác. Vì vậy, phát triển thị trường cần đi cùng nâng cao năng lực quản trị, kiểm soát chất lượng và đa dạng hóa khách hàng.
Để cây quế thực sự trở thành ngành hàng có giá trị cao, vai trò của chính quyền địa phương có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Trước hết, cần có định hướng phát triển vùng nguyên liệu gắn với năng lực chế biến và nhu cầu thị trường. Quy hoạch vùng trồng phải tính đến điều kiện sinh thái, thổ nhưỡng, khả năng cung ứng nguyên liệu, bảo vệ môi trường và sinh kế của người dân. Không nên chỉ lấy diện tích làm tiêu chí đánh giá thành công.
Cùng với đó, cần tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư công nghệ, tiếp cận đất đai, hạ tầng, nguồn nhân lực và các chính sách hỗ trợ phù hợp. Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, cần chú trọng hỗ trợ đào tạo quản trị, tiêu chuẩn chất lượng, chuyển đổi số, xây dựng thương hiệu và kết nối thị trường.
Địa phương cũng cần quan tâm đến đào tạo lao động tại chỗ, giúp người dân có thể tham gia không chỉ ở khâu trồng và thu hoạch mà còn trong hoạt động sơ chế, chế biến và các dịch vụ hỗ trợ sản xuất.
![]() |
| Lãnh đạo tỉnh Lào Cai và Bộ Nông nghiệp và Môi trường thăm quan Nhà máy sản xuất và chế biến quế hữu cơ Bảo Thắng. (Ảnh: Phan Văn Tuấn) |
Một vấn đề không thể bỏ qua là phát triển vùng quế phải gắn với bảo vệ tài nguyên đất, nước và hệ sinh thái. Việc mở rộng diện tích cần được kiểm soát theo quy hoạch, phù hợp điều kiện tự nhiên, tránh phát triển nóng hoặc làm ảnh hưởng đến các diện tích rừng có chức năng bảo vệ môi trường.
Về lâu dài, hiệu quả của ngành hàng quế cần được đánh giá bằng những chỉ tiêu cụ thể: giá trị sản phẩm sau chế biến, tỷ lệ nguyên liệu được chế biến sâu, số doanh nghiệp tham gia chuỗi, số hộ có hợp đồng liên kết ổn định, thu nhập bình quân của người trồng và tỷ trọng sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn thị trường.
Lào Cai đã có lợi thế về diện tích, sản lượng và kinh nghiệm phát triển cây quế. Vấn đề hiện nay là chuyển những lợi thế ấy thành năng lực cạnh tranh thực chất.
Khi vùng nguyên liệu được tổ chức bài bản, doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư công nghệ, hợp tác xã phát huy vai trò kết nối và người dân được hưởng lợi công bằng từ chuỗi sản xuất, cây quế sẽ không chỉ là cây trồng mang lại thu nhập cho từng hộ gia đình, mà có thể trở thành ngành hàng kinh tế có sức lan tỏa, đóng góp lâu dài cho phát triển nông nghiệp hàng hóa và kinh tế miền núi Lào Cai.
