![]() |
| Kinh tế biển (tiếng Anh: Ocean Economy) là cơ hội mở rộng biên giới kinh tế của các quốc gia ven biển vượt ra ngoài lãnh thổ của họ. |
Tại Hội thảo Quốc gia “Hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững” diễn ra tại Cửa Lò (Nghệ An), Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các nhà hoạch định chính sách đã trực diện bóc tách những rào cản đang trói buộc kinh tế biển.
Việt Nam có lợi thế tự nhiên thuộc nhóm lớn nhất khu vực với hơn 3.260 km bờ biển và vùng biển rộng khoảng 1 triệu km². Tuy nhiên, sau 8 năm thực hiện Nghị quyết 36, đóng góp của kinh tế biển vào nền kinh tế vẫn chưa tương xứng.
Tại Hội thảo, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp chỉ rõ nguyên nhân cốt lõi là sự chồng chéo, xung đột pháp lý phức tạp giữa Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo với Luật Điện lực, Luật Hàng hải. Sự chồng lấn này buộc các siêu dự án phải gánh quy trình thủ tục cực kỳ phức tạp, kéo dài thời gian triển khai và làm nản lòng các nhà đầu tư lớn.
Những nút thắt mang tính cấu trúc này đang bộc lộ rõ tại các địa phương trọng điểm. Đại diện tỉnh Quảng Ninh phản ánh một nghịch lý: Dù sở hữu hơn 250 km bờ biển, hệ thống cảng nước sâu và khu kinh tế cửa khẩu năng động, kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2025 của tỉnh chỉ đạt khoảng 75%, mức thấp nhất khu vực Đồng bằng sông Hồng. Hạ tầng logistics biển, hậu cần nghề cá và chuỗi cung ứng thủy sản đều thiếu đồng bộ.
![]() |
| Việt Nam phấn đấu tạo dựng cụm liên kết ngành kinh tế biển ở những khu vực vùng biển và ven biển có lợi thế, phấn đấu hình thành được khoảng 7 cụm liên kết ngành kinh tế biển đến năm 2030. |
Đặc biệt, các địa phương đang phải đối mặt với bài toán hóc búa là tìm điểm cân bằng giữa phát triển công nghiệp nặng, khai thác than, sản xuất điện với việc bảo tồn Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà trước áp lực xói lở, biến đổi khí hậu.
Để giải quyết dứt điểm "căn bệnh" kinh niên này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã xác định 4 chính sách lớn trong định hướng sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. Thay đổi mang tính bước ngoặt là chuyển từ tư duy quản lý đơn ngành hành chính sang quản trị tổng hợp liên ngành, liên vùng. Biển sẽ không chỉ được xem là nguồn tài nguyên khai thác thô mà là không gian phát triển đa mục tiêu, gắn kết chặt chẽ giữa đất liền và hải đảo. Định hướng này mở đường cho các ngành kinh tế biển mới, giá trị gia tăng cao như năng lượng tái tạo ngoài khơi (điện gió), nuôi biển công nghệ cao hay khai thác khoáng sản biển sâu.
Đột phá pháp lý mạnh mẽ nhất trong dự thảo luật sửa đổi lần này là việc lần đầu tiên nghiên cứu đưa vào cơ chế đấu giá quyền sử dụng khu vực biển và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển.
Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam Nguyễn Quốc Toản khẳng định, quy định này nhằm nâng cao tính minh bạch, triệt tiêu tận gốc cơ chế "xin - cho". Dưới góc độ thực tế của doanh nghiệp và ngư dân, Tổng Thư ký Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam Nguyễn Xuân Lam nhấn mạnh, tấm “sổ đỏ” mặt biển chính là chiếc chìa khóa vàng. Có giấy chứng nhận hợp pháp, người dân mới có cơ sở pháp lý để tiếp cận nguồn vốn tín dụng, mua bảo hiểm và yên tâm dốc vốn đầu tư dài hạn vào mô hình nuôi biển xa bờ.
Song song đó, điểm cốt lõi để duy trì tăng trưởng bền vững là chuyển toàn bộ hoạt động quản trị biển lên nền tảng dữ liệu số. Toàn bộ thông tin từ khí tượng thủy văn, môi trường, nuôi trồng đến logistics sẽ được tích hợp trên một hệ thống quốc gia thống nhất để giám sát theo thời gian thực.
Vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành (Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương) Vũ Mạnh Hùng nhận định, việc đổi mới xây dựng pháp luật theo hướng kiến tạo phát triển, kết hợp với cơ chế cho thuê biển với chi phí hợp lý và thủ tục tối giản, sẽ giải phóng toàn bộ sức sản xuất, đưa kinh tế biển thực sự trở thành bệ phóng cho nền kinh tế Việt Nam bứt phá trong những thập kỷ tới.