Không gian đầu tư của Cần Thơ đang được mở rộng theo hướng gắn chặt hơn giữa sản xuất, đô thị và logistics. Thay vì chỉ bổ sung từng dự án riêng lẻ, thành phố đang hình thành một danh mục đầu tư có quy mô lớn, tạo thêm dư địa cho doanh nghiệp lựa chọn địa điểm sản xuất, dịch vụ và các chuỗi cung ứng mới.
Từ danh mục 85 dự án đến không gian sản xuất mới
Theo Quyết định 2509/QĐ-UBND ngày 28/5/2026, UBND TP. Cần Thơ đưa 85 dự án vào danh mục mời gọi đầu tư đến năm 2030.
Danh mục trải rộng trên nhiều lĩnh vực, trong đó có 14 dự án hạ tầng khu công nghiệp, 8 dự án hạ tầng cụm công nghiệp, 6 dự án năng lượng và 37 dự án đô thị - nhà ở, cùng các dự án thuộc thương mại, giáo dục, du lịch và nông nghiệp công nghệ cao.
![]() |
| Lễ Khánh thành Khu công nghiệp Trần Đề với tổng vốn đầu tư gần 1.230 tỉ đồng - (Ảnh: https://baocantho.com.vn). |
Đáng chú ý, nhiều dự án công nghiệp có quy mô hàng trăm ha. Trong đó có Khu công nghiệp Trần Đề 2 khoảng 700 ha, Khu công nghiệp - đô thị - dịch vụ Trần Đề khoảng 638 ha, Khu công nghiệp - đô thị - dịch vụ Phú Mỹ khoảng 1.125 ha và Khu công nghiệp công nghệ cao Ô Môn khoảng 250 ha.
Với doanh nghiệp, ý nghĩa của danh mục này không chỉ nằm ở số lượng dự án. Quỹ đất công nghiệp mới nếu được triển khai đồng bộ sẽ tạo thêm mặt bằng cho các dự án sản xuất, chế biến, công nghiệp hỗ trợ và những ngành có yêu cầu ngày càng cao về hạ tầng kỹ thuật.
Đặc biệt, việc phát triển các khu công nghiệp theo mô hình gắn với đô thị và dịch vụ có thể tạo ra hệ sinh thái hoàn chỉnh hơn quanh nhà máy, từ nơi ở, dịch vụ đến nguồn nhân lực.
Logistics trở thành mắt xích của dòng hàng
Một dự án khác tạo dấu ấn trong danh mục là Trung tâm logistics hàng không gắn với Cảng hàng không quốc tế Cần Thơ, quy mô 100 ha, tại phường Long Tuyền và phường Thới An Đông.
Định hướng này cho thấy logistics đang được đặt trong cùng không gian phát triển với công nghiệp và đô thị, thay vì chỉ được xem như một dịch vụ hỗ trợ phía sau sản xuất.
Trung tâm logistics hàng không được kỳ vọng hỗ trợ vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không, hoạt động xuất nhập khẩu và trung chuyển hàng hóa của Cần Thơ cũng như khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Khi được kết nối với các vùng sản xuất, đầu mối giao thông và hệ thống phân phối, hạ tầng này có thể mở thêm lựa chọn vận chuyển cho doanh nghiệp, nhất là nhóm hàng có yêu cầu cao về thời gian giao nhận.
Đây cũng là hướng đi phù hợp với mục tiêu phát triển logistics đa phương thức của thành phố, trong đó cảng biển, cảng sông, sân bay và mạng lưới giao thông liên vùng được xem là các mắt xích của cùng một chuỗi.
Khu công nghiệp Trần Đề tạo điểm nối với cảng biển
Nếu 85 dự án phản ánh quy mô không gian đầu tư đang được chuẩn bị, thì Khu công nghiệp Trần Đề là một hạ tầng công nghiệp đã bước sang giai đoạn hình thành thực tế.
![]() |
| Khu công nghiệp Trần Đề có diện tích quy hoạch 160 ha, tổng vốn đầu tư gần 1.230 tỷ đồng, đang tạo thêm mặt bằng sản xuất và thu hút các dự án thứ cấp tại khu vực phía Đông Nam TP. Cần Thơ. |
Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp Trần Đề có tổng vốn gần 1.230 tỷ đồng, diện tích quy hoạch 160 ha, vừa được khánh thành ngày 22/9. Chủ đầu tư cho biết sẽ tiếp tục thu hút các dự án thứ cấp, ưu tiên những dự án công nghệ cao.
Tại lễ khánh thành, Chủ tịch UBND TP. Cần Thơ Trương Cảnh Tuyên yêu cầu chủ đầu tư tiếp tục thực hiện đầy đủ trách nhiệm của nhà đầu tư hạ tầng, đồng hành với doanh nghiệp trong quá trình đầu tư, sản xuất, kinh doanh; hướng tới xây dựng khu công nghiệp đồng bộ, hiện đại, an toàn, hiệu quả và bền vững.
Khu công nghiệp này còn nằm trong không gian phát triển rộng hơn của Khu kinh tế Trần Đề, được định hướng có quy mô trên 40.000 ha, phát triển kinh tế tổng hợp đa ngành, gắn với Cảng biển Trần Đề và vai trò đầu mối giao thương hàng hải quốc tế của khu vực.
Khi các lớp hạ tầng được kết nối, doanh nghiệp có thể hưởng lợi từ một chuỗi không gian tương đối hoàn chỉnh: khu công nghiệp tạo năng lực sản xuất, đô thị cung cấp nguồn nhân lực và dịch vụ, còn logistics và cảng biển đảm nhiệm khâu lưu chuyển hàng hóa.
Vấn đề tiếp theo vì thế không còn nằm ở việc có bao nhiêu dự án được đưa vào danh mục, mà là khả năng chuyển hóa danh mục thành những dự án đủ điều kiện triển khai, bảo đảm tiến độ và tạo ra năng lực hạ tầng thực chất.
Đối với cộng đồng doanh nghiệp, đây là giai đoạn cần theo dõi sát tiến độ từng dự án, bởi sự dịch chuyển của hạ tầng công nghiệp và logistics sẽ kéo theo những thay đổi đáng kể về mặt bằng sản xuất, chuỗi cung ứng và không gian dịch vụ trong những năm tới.