Thứ ba 28/07/2026 01:02
Hotline: 024.355.63.010
Thời cuộc

Điều chỉnh tuổi nghỉ hưu theo lộ trình cần được thực hiện sớm và bảo đảm các yếu tố kinh tế - xã hội

12/10/2020 00:00
Vấn đề điều chỉnh tuổi nghỉ hưu đã nhiều lần được đưa ra bàn thảo và lần nào cũng nhận được sự quan tâm trên tất cả các diễn đàn, từ báo chí chính thống đến mạng xã hội.

Thể chế hóa Nghị quyết của Đảng

Với quan điểm hướng tới BHXH toàn dân, mở rộng sàn an sinh xã hội để tất cả người hết tuổi lao động đều có lương hưu và từng bước cải thiện đời sống người nghỉ hưu, Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đưa ra nhiều định hướng chỉ đạo lớn, trong đó có vấn đề điều chỉnh tuổi nghỉ hưu theo mục tiêu tăng tuổi nghỉ hưu chung…

Sau gần 25 năm thực hiện BHXH theo mô hình tập trung, thống nhất, trước những yêu cầu cấp thiết phải xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật BHXH, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới, ngày 23/5/2018, Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội. Tại Nghị quyết nêu rõ: "Từ năm 2021, thực hiện điều chỉnh tuổi nghỉ hưu theo mục tiêu tăng tuổi nghỉ hưu chung, thu hẹp dần khoảng cách về giới trong quy định tuổi nghỉ hưu; đối với những ngành nghề đặc biệt, người lao động được quyền nghỉ hưu sớm, hoặc muộn hơn 5 tuổi so với tuổi nghỉ hưu chung.

Điều chỉnh tuổi nghỉ hưu cần có tầm nhìn dài hạn và có lộ trình phù hợp với tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, thất nghiệp; không gây tác động tiêu cực đến thị trường lao động; bảo đảm số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số; bình đẳng giới; cân đối Quỹ bảo hiểm xã hội trong dài hạn; xu hướng già hoá dân số; tính chất, loại hình lao động và giữa các ngành nghề, lĩnh vực".

Theo tinh thần này, việc điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu cũng cần phù hợp quy mô, cơ cấu, chất lượng, thể trạng sức khỏe và tuổi thọ của người lao động Việt Nam, tránh phải điều chỉnh đột ngột lên mức quá cao trong tương lai, bảo đảm hài hòa cung – cầu lao động, góp phần ổn định chính trị - xã hội.

Mặt khác, việc điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu cũng cần tính đến bảo vệ nhóm lao động yếu thế; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp thuận lợi trong quá trình tuyển dụng, sử dụng lao động, từng bước hình thành thị trường lao động đồng bộ và lành mạnh.

Việc điều chỉnh nào cũng cần bảo đảm tính khả thi trong thực thi các điều kiện, tiêu chuẩn lao động; bảo đảm sự đồng bộ của hệ thống pháp luật Việt Nam, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội và thể chế chính trị của Việt Nam, đặc biệt là các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản.

Quán triệt tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW, tại Tờ trình Bộ Chính trị về Đề án cải cách chính sách bảo hiểm xã hội, Ban cán sự Đảng Chính phủ đề xuất phương án tăng tuổi nghỉ hưu của nam lên 62 và nữ lên 60 và thực hiện kể từ năm 2021 với lộ trình phù hợp. Cụ thể hóa các nội dung này, tại Dự án Bộ luật Lao động Sửa đổi, Chính phủ đã đề xuất hai phương án điều chỉnh tuổi nghỉ hưu trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến:

Phương án 1: Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 03 tháng đối với nam và đủ 55 tuổi 04 tháng đối với nữ; sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 03 tháng đối với nam và 04 tháng đối với nữ cho đến khi nam đủ 62 tuổi, nữ đủ 60 tuổi.

Phương án 2: Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 04 tháng đối với nam và đủ 55 tuổi 06 tháng đối với nữ; sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 04 tháng đối với nam và 06 tháng đối với nữ cho đến khi nam đủ 62 tuổi, nữ đủ 60 tuổi.

Đồng thời, dự thảo cũng quy định:

Quyền nghỉ hưu sớm hơn không quá 5 tuổi đối với người lao động bị suy giảm khả năng lao động; làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; và một số công việc, nghề nghiệp đặc biệt.

Quyền nghỉ hưu muộn hơn không quá 5 tuổi đối với người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, người lao động làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt.

Việc hoàn thiện và trình Quốc hội cho ý kiến về Dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi) lần này, chính là nhằm thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng về việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế, về cải cách chính sách tiền lương, cải cách chính sách bảo hiểm xã hội và kiến tạo khung pháp luật về lao động, nhằm phát triển đồng bộ, liên thông thị trường lao động, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao./.

Góc nhìn từ thực tiễn

Tốc độ già hóa dân số đang tăng nhanh đưa Việt Nam tiệm cận gần với ngưỡng dân số già, tuổi thọ bình quân của người Việt Nam cũng được cải thiện nhiều với tỷ lệ sống khỏe sau 60 tuổi đứng thứ 41/183 quốc gia… - Đó là những con số tổng kết từ thực tiễn cho thấy sự cần thiết cũng như tính khả thi khi thực hiện điều chỉnh tuổi nghỉ hưu theo lộ trình.

Trong quá trình phát triển, việc điều chỉnh các chính sách kinh tế, xã hội cho phù hợp với điều kiện đặc thù của từng giai đoạn, từng thời kỳ là việc mà tất cả các quốc gia đều phải đối mặt. Có những chính sách khi điều chỉnh sẽ được nhận được sự đồng thuận, có những chính sách ít nhận được sự đồng thuận nhưng đứng trên góc nhìn thực tiễn vẫn phải triển khai. Việc điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu thường ít nhận được sự đồng thuận, điều này không chỉ xảy ra với Việt Nam mà với hầu hết các nước. Vậy thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam đang đặt ra những yêu cầu gì để cần xem xét, điều chỉnh tuổi nghỉ hưu?

Thứ nhất, điều chỉnh tuổi nghỉ hưu nhằm ứng phó với sự thiếu hụt lao động trong tương lai.

Theo báo cáo thống kê từ Bộ Lao động Thương binh và Xã hội và Tổ chức lao động Quốc tế, 15 năm năm trước, những năm 2004 - 2009, mỗi năm lực lượng lao động Việt Nam tăng 1,2 triệu người. Năm năm gần đây, từ 2014-2019, mỗi năm tăng chỉ 400 nghìn người, tức là chỉ tăng bằng 1/3 so với 15 năm trước. Điều này chứng tỏ Việt Nam đang bước nhanh ra thời kỳ dân số vàng để chuyển sang giai đoạn dân số già. Nếu không mở rộng tuổi nghỉ hưu, chắc chắn chúng ta sẽ phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt lao động trong tương lai. Kinh nghiệm các nước là phải điều chỉnh tuổi nghỉ hưu phải tiến hành sớm, từ trước khi bước sang giai đoạn già hóa dân số thì mới kịp thời ứng phó. Đây chính là thời điểm phù hợp để chúng ta tiến hành điều chỉnh tuổi nghỉ hưu nhằm chủ động ứng phó sự thiếu hụt lao động trong tương lai.

Thứ hai, điều chỉnh tuổi nghỉ hưu nhằm hướng tới thực hiện các công ước quốc tế về bình đẳng giới.

Trong suốt thời gian qua, chúng ta đã duy trì khoảng cách tuổi nghỉ hưu giữa nam và nữ là 05 tuổi với lý do với các đặc điểm thể chất, tâm sinh lý, phụ nữ cần được nghỉ ngơi sớm hơn nam giới. Nhưng thực tế cho thấy, khi tuổi nghỉ hưu của nam và nữ chênh lệch quá lớn, sẽ hạn chế cơ hội làm việc và thăng tiến của phụ nữ. Trong một phát biểu mới đây, Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam Nguyễn Thị Thu Hà cho rằng, vì tuổi nghỉ hưu sớm hơn 05 năm nên cơ hội việc làm và thăng tiến của nữ thấp hơn nam. Cũng vì nghỉ hưu sớm hơn nên mức lương tối đa khi đi làm của nữ cũng thấp hơn, thời gian tham gia BHXH ngắn hơn, do vậy lương hưu của nữ cũng thấp hơn nam. Vì vậy, cuộc sống khi về già của phụ nữ khó khăn hơn nam giới. Theo Công ước CEDAW về xóa bỏ các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, khuyến nghị tuổi nghỉ hưu nam và nữ thu hẹp lại tiến tới bằng nhau.

Thứ ba, điều chỉnh tuổi nghỉ hưu bảo đảm phù hợp sức khỏe và nhu cầu của người lao động.

Khi dự thảo Bộ luật Lao động được đưa ra xin ý kiến rộng rãi, nhiều người lo lắng tuổi thọ của Việt Nam tăng nhưng số năm sống khỏe mạnh sau tuổi 60 thấp. Vậy liệu sau tuổi 60 người lao động có còn đủ sức khỏe để đi làm?

Theo số liệu được công bố tại Website của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) với lần truy cập gần nhất ngày 06/4/2018, khảo sát số liệu đánh giá về chỉ số sống khỏe mạnh sau 60 tuổi của 183 quốc gia, Việt Nam xếp thứ 41, tức là chúng ta đứng sau 40 nước và đứng trên 142 nước. Số năm sống khỏe mạnh sau tuổi 60 của Việt Nam là 17 năm, quốc gia có chỉ số cao nhất là Singapore với 21 năm và Nhật Bản đứng thứ ba với 20,8 năm. Ngay tại 46 quốc gia trong khu vực châu Á, đánh giá về chỉ số sống khỏe mạnh sau tuổi 60, Việt Nam chỉ đứng thứ năm sau Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, Israel. Việc điều chỉnh phụ nữ tăng thêm 5 tuổi và nam thêm 2 tuổi có thể khả thi khi nhìn vào chỉ số này.

Số liệu này hoàn toàn có thể tin cậy khi công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân của cả hệ thống chính trị trong thời gian qua đã đạt được nhiều thành tựu, với 96,4% xã, phường có trạm y tế, rất nhiều mặt về đời sống được cải thiện. Chúng ta loại trừ nhiều dịch bệnh. Việc tiếp cận y tế ở từng vùng, miền có thể còn có những điều chưa thực sự hài lòng nhưng được cải thiện rất nhiều và rất rõ rệt.

Thứ tư, bảo đảm tốt hơn nguyên tắc đóng – hưởng BHXH và góp phần cải thiện đời sống người nghỉ hưu.

Với việc nâng dần tuổi nghỉ hưu, mức lương làm căn cứ đóng BHXH của người lao động trước khi nghỉ hưu sẽ cao hơn; số năm tham gia BHXH nhiều lên, đồng nghĩa với việc tỷ lệ hưởng lương hưu cao hơn và mức tiền lương bình quân làm căn cứ tính hưởng lương hưu cao hơn. Quyền lợi BHXH của người lao động cũng sẽ tốt hơn, mức lương hưu cao hơn bảo đảm tốt hơn cuộc sống khi nghỉ hưu. Mặt khác, với những năm đóng BHXH vượt lên, người lao động vẫn được nhận trợ cấp BHXH một lần khi nghỉ hưu.

Tất nhiêu, bên cạnh đó cũng có những trường hợp ngoại lệ như có những công việc, ngành nghề khó có thể làm việc đến tuổi 60 và 62, nhưng những trường hợp ngoại lệ này vẫn sẽ có những quy định linh hoạt, đồng thời bên cạnh đó cũng cần có những chính sách đồng bộ, tổng thể hơn về đào tạo nghề, đào tạo chuyển đổi nghề với một số ngành, nghề có tuổi nghề ngắn...

Từ những phân tích trên có thể thấy, việc điều chỉnh tuổi nghỉ hưu lần này đã được các cơ quan soạn thảo hết sức cân nhắc, thận trọng. Các căn cứ thực tiễn nêu trên cho thấy, vấn đề điều chỉnh tuổi nghỉ hưu đã chọn được thời điểm thích hợp và thực sự là yêu cầu cấp thiết từ thực tiễn.

Ths. Dương Ngọc Ánh

Tin bài khác
Điểm mới từ Hội nghị Trung ương 3: Chính sách phải đi cùng năng lực thực thi

Điểm mới từ Hội nghị Trung ương 3: Chính sách phải đi cùng năng lực thực thi

Không chỉ ban hành các quyết sách lớn, tại Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV, Ban Chấp hành Trung ương còn đặt ra yêu cầu mới trong tổ chức thực hiện. Tinh thần xuyên suốt là mọi chủ trương phải được triển khai bằng cơ chế rõ ràng, trách nhiệm cụ thể và được đánh giá bằng kết quả thực tế, qua đó nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia và tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội.
Đề xuất cơ chế đặc thù cho khu đô thị lấn biển Đà Nẵng hơn 400.000 tỷ đồng

Đề xuất cơ chế đặc thù cho khu đô thị lấn biển Đà Nẵng hơn 400.000 tỷ đồng

Trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết dự án khu đô thị lấn biển Đà Nẵng được quy hoạch với quy mô khoảng 1.500 ha, tổng vốn đầu tư trên 400.000 tỷ đồng, hướng tới hình thành một đô thị biển hiện đại tầm cỡ quốc tế, tạo không gian phát triển mới cho thành phố. Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra đề nghị đánh giá toàn diện tác động của các cơ chế đặc thù, đặc biệt là những chính sách liên quan đến nhà đầu tư nước ngoài và quốc phòng, an ninh.
Đề xuất cơ chế đặc thù cho siêu đô thị lấn biển 400.000 tỷ tại Đà Nẵng

Đề xuất cơ chế đặc thù cho siêu đô thị lấn biển 400.000 tỷ tại Đà Nẵng

Dự án được định hướng phát triển trở thành khu đô thị biển hiện đại, tầm cỡ quốc tế, với diện tích khoảng 1.500 ha, quy mô vốn đầu tư trên 400.000 tỷ đồng.
TP. Hồ Chí Minh sẽ có Khu Thương mại tự do hơn 4.100 ha kết nối siêu cảng Cái Mép Hạ

TP. Hồ Chí Minh sẽ có Khu Thương mại tự do hơn 4.100 ha kết nối siêu cảng Cái Mép Hạ

Với quy mô hơn 4.174 ha, Khu Thương mại tự do TP. Hồ Chí Minh được quy hoạch gắn với cụm cảng Cái Mép Hạ và hệ thống hạ tầng giao thông chiến lược. Mô hình này được kỳ vọng mở rộng không gian phát triển logistics, công nghiệp và dịch vụ, đồng thời tăng sức hút đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Dòng tiền đang chảy về đâu trong đầu tư hạ tầng giao thông?

Dòng tiền đang chảy về đâu trong đầu tư hạ tầng giao thông?

Dòng vốn đầu tư hạ tầng giao thông đang có sự dịch chuyển rõ nét, tập trung vào các dự án trọng điểm, ưu tiên hiệu quả và tính lan tỏa, trong bối cảnh áp lực vốn, lãi suất và yêu cầu minh bạch ngày càng gia tăng.
Đề xuất đầu tư cao tốc Bắc Kạn – Cao Bằng gần 29.300 tỷ đồng

Đề xuất đầu tư cao tốc Bắc Kạn – Cao Bằng gần 29.300 tỷ đồng

Để xuất đầu tư dự án cao tốc Bắc Kạn – Cao Bằng quy mô gần 29.300 tỷ đồng đang được hoàn thiện hồ sơ, kỳ vọng mở trục kết nối chiến lược, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội khu vực Đông Bắc.
Bài 8: Đổi tên luật hay đổi tư duy phát triển doanh nghiệp?

Bài 8: Đổi tên luật hay đổi tư duy phát triển doanh nghiệp?

Đổi tên Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thành Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa không đơn thuần là sửa vài chữ trong một văn bản pháp luật. Điều quan trọng hơn là thay đổi tư duy làm chính sách, từ "hỗ trợ" sang "tạo cơ hội" để doanh nghiệp tự lớn lên bằng năng lực của mình.
Thị trường carbon mở ra không gian cạnh tranh và hợp tác kinh tế toàn cầu mới

Thị trường carbon mở ra không gian cạnh tranh và hợp tác kinh tế toàn cầu mới

Thị trường carbon đang chuyển từ công cụ chính sách sang không gian cạnh tranh toàn cầu, buộc Việt Nam chủ động tham gia để tận dụng cơ hội tăng trưởng xanh và đáp ứng cam kết giảm phát thải.
Thu gần 30 tỷ đồng sau tuần đầu thu phí 5 tuyến cao tốc

Thu gần 30 tỷ đồng sau tuần đầu thu phí 5 tuyến cao tốc

Sau một tuần triển khai thu phí điện tử không dừng, 5 tuyến cao tốc Bắc – Nam ghi nhận lưu lượng lớn, doanh thu gần 30 tỷ đồng, mở ra bước chuyển quan trọng trong vận hành hạ tầng.
Lâm Đồng: Khảo sát doanh nghiệp, thúc đẩy triển khai hiệu quả Nghị quyết 57-NQ/TW

Lâm Đồng: Khảo sát doanh nghiệp, thúc đẩy triển khai hiệu quả Nghị quyết 57-NQ/TW

Chiều 23/7, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Ngọc Phúc đã dẫn đầu đoàn công tác khảo sát, làm việc với một số doanh nghiệp tại khu vực Tây Lâm Đồng nhằm nắm bắt tình hình triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao Chỉ số BPI trên địa bàn tỉnh.
Đà Nẵng - Quảng Ngãi liên kết hình thành cực tăng trưởng mới của miền Trung

Đà Nẵng - Quảng Ngãi liên kết hình thành cực tăng trưởng mới của miền Trung

Lãnh đạo TP. Đà Nẵng và tỉnh Quảng Ngãi thống nhất xây dựng Đề án phát triển liên kết không gian Chu Lai - Dung Quất - Nam Giang - Hành lang kinh tế Đông - Tây 2, hướng tới hình thành cực tăng trưởng mới về công nghiệp, logistics, thương mại tự do, công nghệ cao và đổi mới sáng tạo của miền Trung.
Đề xuất đầu tư PPP cao tốc Pleiku - Lệ Thanh hơn 17.000 tỷ đồng

Đề xuất đầu tư PPP cao tốc Pleiku - Lệ Thanh hơn 17.000 tỷ đồng

Gia Lai đề xuất đầu tư cao tốc Pleiku - Lệ Thanh theo hình thức PPP, tổng vốn hơn 17.000 tỷ đồng, kỳ vọng tạo động lực phát triển kinh tế và kết nối chiến lược vùng Tây Nguyên.
Quy hoạch đường bộ mới hướng tới hơn 10.000km cao tốc toàn quốc năm 2050

Quy hoạch đường bộ mới hướng tới hơn 10.000km cao tốc toàn quốc năm 2050

Quy hoạch điều chỉnh đặt mục tiêu đến năm 2050 phát triển hơn 10.000km cao tốc, mở rộng kết nối vùng, tạo nền tảng hạ tầng then chốt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn.
Thị trường vốn cần cú hích thể chế để giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng

Thị trường vốn cần cú hích thể chế để giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng

Trước yêu cầu tăng trưởng cao, các chuyên gia nhấn mạnh cần phát triển thị trường vốn đồng bộ, minh bạch nhằm giảm áp lực cho ngân hàng và mở rộng nguồn lực dài hạn cho nền kinh tế.
Bộ Xây dựng: Thúc đẩy hợp tác xã đa ngành, nâng năng lực cạnh tranh giai đoạn mới

Bộ Xây dựng: Thúc đẩy hợp tác xã đa ngành, nâng năng lực cạnh tranh giai đoạn mới

Bộ Xây dựng định hướng phát triển hợp tác xã xây dựng, vận tải theo mô hình đa ngành, đẩy mạnh công nghệ, liên kết thị trường và nâng cao năng lực quản trị trong giai đoạn 2026-2030.