Thứ bảy 03/10/2026 15:23
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Điều chỉnh tuổi nghỉ hưu theo lộ trình cần được thực hiện sớm và bảo đảm các yếu tố kinh tế - xã hội

12/10/2020 00:00
Vấn đề điều chỉnh tuổi nghỉ hưu đã nhiều lần được đưa ra bàn thảo và lần nào cũng nhận được sự quan tâm trên tất cả các diễn đàn, từ báo chí chính thống đến mạng xã hội.

Thể chế hóa Nghị quyết của Đảng

Với quan điểm hướng tới BHXH toàn dân, mở rộng sàn an sinh xã hội để tất cả người hết tuổi lao động đều có lương hưu và từng bước cải thiện đời sống người nghỉ hưu, Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đưa ra nhiều định hướng chỉ đạo lớn, trong đó có vấn đề điều chỉnh tuổi nghỉ hưu theo mục tiêu tăng tuổi nghỉ hưu chung…

Sau gần 25 năm thực hiện BHXH theo mô hình tập trung, thống nhất, trước những yêu cầu cấp thiết phải xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật BHXH, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới, ngày 23/5/2018, Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội. Tại Nghị quyết nêu rõ: "Từ năm 2021, thực hiện điều chỉnh tuổi nghỉ hưu theo mục tiêu tăng tuổi nghỉ hưu chung, thu hẹp dần khoảng cách về giới trong quy định tuổi nghỉ hưu; đối với những ngành nghề đặc biệt, người lao động được quyền nghỉ hưu sớm, hoặc muộn hơn 5 tuổi so với tuổi nghỉ hưu chung.

Điều chỉnh tuổi nghỉ hưu cần có tầm nhìn dài hạn và có lộ trình phù hợp với tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, thất nghiệp; không gây tác động tiêu cực đến thị trường lao động; bảo đảm số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số; bình đẳng giới; cân đối Quỹ bảo hiểm xã hội trong dài hạn; xu hướng già hoá dân số; tính chất, loại hình lao động và giữa các ngành nghề, lĩnh vực".

Theo tinh thần này, việc điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu cũng cần phù hợp quy mô, cơ cấu, chất lượng, thể trạng sức khỏe và tuổi thọ của người lao động Việt Nam, tránh phải điều chỉnh đột ngột lên mức quá cao trong tương lai, bảo đảm hài hòa cung – cầu lao động, góp phần ổn định chính trị - xã hội.

Mặt khác, việc điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu cũng cần tính đến bảo vệ nhóm lao động yếu thế; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp thuận lợi trong quá trình tuyển dụng, sử dụng lao động, từng bước hình thành thị trường lao động đồng bộ và lành mạnh.

Việc điều chỉnh nào cũng cần bảo đảm tính khả thi trong thực thi các điều kiện, tiêu chuẩn lao động; bảo đảm sự đồng bộ của hệ thống pháp luật Việt Nam, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội và thể chế chính trị của Việt Nam, đặc biệt là các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản.

Quán triệt tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW, tại Tờ trình Bộ Chính trị về Đề án cải cách chính sách bảo hiểm xã hội, Ban cán sự Đảng Chính phủ đề xuất phương án tăng tuổi nghỉ hưu của nam lên 62 và nữ lên 60 và thực hiện kể từ năm 2021 với lộ trình phù hợp. Cụ thể hóa các nội dung này, tại Dự án Bộ luật Lao động Sửa đổi, Chính phủ đã đề xuất hai phương án điều chỉnh tuổi nghỉ hưu trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến:

Phương án 1: Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 03 tháng đối với nam và đủ 55 tuổi 04 tháng đối với nữ; sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 03 tháng đối với nam và 04 tháng đối với nữ cho đến khi nam đủ 62 tuổi, nữ đủ 60 tuổi.

Phương án 2: Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 04 tháng đối với nam và đủ 55 tuổi 06 tháng đối với nữ; sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 04 tháng đối với nam và 06 tháng đối với nữ cho đến khi nam đủ 62 tuổi, nữ đủ 60 tuổi.

Đồng thời, dự thảo cũng quy định:

Quyền nghỉ hưu sớm hơn không quá 5 tuổi đối với người lao động bị suy giảm khả năng lao động; làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; và một số công việc, nghề nghiệp đặc biệt.

Quyền nghỉ hưu muộn hơn không quá 5 tuổi đối với người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, người lao động làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt.

Việc hoàn thiện và trình Quốc hội cho ý kiến về Dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi) lần này, chính là nhằm thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng về việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế, về cải cách chính sách tiền lương, cải cách chính sách bảo hiểm xã hội và kiến tạo khung pháp luật về lao động, nhằm phát triển đồng bộ, liên thông thị trường lao động, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao./.

Góc nhìn từ thực tiễn

Tốc độ già hóa dân số đang tăng nhanh đưa Việt Nam tiệm cận gần với ngưỡng dân số già, tuổi thọ bình quân của người Việt Nam cũng được cải thiện nhiều với tỷ lệ sống khỏe sau 60 tuổi đứng thứ 41/183 quốc gia… - Đó là những con số tổng kết từ thực tiễn cho thấy sự cần thiết cũng như tính khả thi khi thực hiện điều chỉnh tuổi nghỉ hưu theo lộ trình.

Trong quá trình phát triển, việc điều chỉnh các chính sách kinh tế, xã hội cho phù hợp với điều kiện đặc thù của từng giai đoạn, từng thời kỳ là việc mà tất cả các quốc gia đều phải đối mặt. Có những chính sách khi điều chỉnh sẽ được nhận được sự đồng thuận, có những chính sách ít nhận được sự đồng thuận nhưng đứng trên góc nhìn thực tiễn vẫn phải triển khai. Việc điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu thường ít nhận được sự đồng thuận, điều này không chỉ xảy ra với Việt Nam mà với hầu hết các nước. Vậy thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam đang đặt ra những yêu cầu gì để cần xem xét, điều chỉnh tuổi nghỉ hưu?

Thứ nhất, điều chỉnh tuổi nghỉ hưu nhằm ứng phó với sự thiếu hụt lao động trong tương lai.

Theo báo cáo thống kê từ Bộ Lao động Thương binh và Xã hội và Tổ chức lao động Quốc tế, 15 năm năm trước, những năm 2004 - 2009, mỗi năm lực lượng lao động Việt Nam tăng 1,2 triệu người. Năm năm gần đây, từ 2014-2019, mỗi năm tăng chỉ 400 nghìn người, tức là chỉ tăng bằng 1/3 so với 15 năm trước. Điều này chứng tỏ Việt Nam đang bước nhanh ra thời kỳ dân số vàng để chuyển sang giai đoạn dân số già. Nếu không mở rộng tuổi nghỉ hưu, chắc chắn chúng ta sẽ phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt lao động trong tương lai. Kinh nghiệm các nước là phải điều chỉnh tuổi nghỉ hưu phải tiến hành sớm, từ trước khi bước sang giai đoạn già hóa dân số thì mới kịp thời ứng phó. Đây chính là thời điểm phù hợp để chúng ta tiến hành điều chỉnh tuổi nghỉ hưu nhằm chủ động ứng phó sự thiếu hụt lao động trong tương lai.

Thứ hai, điều chỉnh tuổi nghỉ hưu nhằm hướng tới thực hiện các công ước quốc tế về bình đẳng giới.

Trong suốt thời gian qua, chúng ta đã duy trì khoảng cách tuổi nghỉ hưu giữa nam và nữ là 05 tuổi với lý do với các đặc điểm thể chất, tâm sinh lý, phụ nữ cần được nghỉ ngơi sớm hơn nam giới. Nhưng thực tế cho thấy, khi tuổi nghỉ hưu của nam và nữ chênh lệch quá lớn, sẽ hạn chế cơ hội làm việc và thăng tiến của phụ nữ. Trong một phát biểu mới đây, Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam Nguyễn Thị Thu Hà cho rằng, vì tuổi nghỉ hưu sớm hơn 05 năm nên cơ hội việc làm và thăng tiến của nữ thấp hơn nam. Cũng vì nghỉ hưu sớm hơn nên mức lương tối đa khi đi làm của nữ cũng thấp hơn, thời gian tham gia BHXH ngắn hơn, do vậy lương hưu của nữ cũng thấp hơn nam. Vì vậy, cuộc sống khi về già của phụ nữ khó khăn hơn nam giới. Theo Công ước CEDAW về xóa bỏ các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, khuyến nghị tuổi nghỉ hưu nam và nữ thu hẹp lại tiến tới bằng nhau.

Thứ ba, điều chỉnh tuổi nghỉ hưu bảo đảm phù hợp sức khỏe và nhu cầu của người lao động.

Khi dự thảo Bộ luật Lao động được đưa ra xin ý kiến rộng rãi, nhiều người lo lắng tuổi thọ của Việt Nam tăng nhưng số năm sống khỏe mạnh sau tuổi 60 thấp. Vậy liệu sau tuổi 60 người lao động có còn đủ sức khỏe để đi làm?

Theo số liệu được công bố tại Website của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) với lần truy cập gần nhất ngày 06/4/2018, khảo sát số liệu đánh giá về chỉ số sống khỏe mạnh sau 60 tuổi của 183 quốc gia, Việt Nam xếp thứ 41, tức là chúng ta đứng sau 40 nước và đứng trên 142 nước. Số năm sống khỏe mạnh sau tuổi 60 của Việt Nam là 17 năm, quốc gia có chỉ số cao nhất là Singapore với 21 năm và Nhật Bản đứng thứ ba với 20,8 năm. Ngay tại 46 quốc gia trong khu vực châu Á, đánh giá về chỉ số sống khỏe mạnh sau tuổi 60, Việt Nam chỉ đứng thứ năm sau Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, Israel. Việc điều chỉnh phụ nữ tăng thêm 5 tuổi và nam thêm 2 tuổi có thể khả thi khi nhìn vào chỉ số này.

Số liệu này hoàn toàn có thể tin cậy khi công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân của cả hệ thống chính trị trong thời gian qua đã đạt được nhiều thành tựu, với 96,4% xã, phường có trạm y tế, rất nhiều mặt về đời sống được cải thiện. Chúng ta loại trừ nhiều dịch bệnh. Việc tiếp cận y tế ở từng vùng, miền có thể còn có những điều chưa thực sự hài lòng nhưng được cải thiện rất nhiều và rất rõ rệt.

Thứ tư, bảo đảm tốt hơn nguyên tắc đóng – hưởng BHXH và góp phần cải thiện đời sống người nghỉ hưu.

Với việc nâng dần tuổi nghỉ hưu, mức lương làm căn cứ đóng BHXH của người lao động trước khi nghỉ hưu sẽ cao hơn; số năm tham gia BHXH nhiều lên, đồng nghĩa với việc tỷ lệ hưởng lương hưu cao hơn và mức tiền lương bình quân làm căn cứ tính hưởng lương hưu cao hơn. Quyền lợi BHXH của người lao động cũng sẽ tốt hơn, mức lương hưu cao hơn bảo đảm tốt hơn cuộc sống khi nghỉ hưu. Mặt khác, với những năm đóng BHXH vượt lên, người lao động vẫn được nhận trợ cấp BHXH một lần khi nghỉ hưu.

Tất nhiêu, bên cạnh đó cũng có những trường hợp ngoại lệ như có những công việc, ngành nghề khó có thể làm việc đến tuổi 60 và 62, nhưng những trường hợp ngoại lệ này vẫn sẽ có những quy định linh hoạt, đồng thời bên cạnh đó cũng cần có những chính sách đồng bộ, tổng thể hơn về đào tạo nghề, đào tạo chuyển đổi nghề với một số ngành, nghề có tuổi nghề ngắn...

Từ những phân tích trên có thể thấy, việc điều chỉnh tuổi nghỉ hưu lần này đã được các cơ quan soạn thảo hết sức cân nhắc, thận trọng. Các căn cứ thực tiễn nêu trên cho thấy, vấn đề điều chỉnh tuổi nghỉ hưu đã chọn được thời điểm thích hợp và thực sự là yêu cầu cấp thiết từ thực tiễn.

Ths. Dương Ngọc Ánh

Tin bài khác
Vốn đầu tư 9 tháng tăng 15,1%, FDI thực hiện lập mức cao nhất 5 năm

Vốn đầu tư 9 tháng tăng 15,1%, FDI thực hiện lập mức cao nhất 5 năm

9 tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội ước đạt 3.109,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện tại Việt Nam đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% và là mức cao nhất trong 9 tháng của 5 năm qua.
Hải Phòng tăng tốc quý IV, quyết tâm hoàn thành mục tiêu tăng trưởng từ 13%

Hải Phòng tăng tốc quý IV, quyết tâm hoàn thành mục tiêu tăng trưởng từ 13%

Sau 9 tháng duy trì đà tăng trưởng, Hải Phòng bước vào quý IV với mục tiêu GRDP tăng 14,5% - mức tăng đòi hỏi thành phố phải tháo gỡ nhanh các điểm nghẽn, đẩy mạnh đầu tư công và huy động tối đa các động lực tăng trưởng.
Không gian tầm thấp: Từ quản lý hoạt động bay đến một không gian phát triển mới

Không gian tầm thấp: Từ quản lý hoạt động bay đến một không gian phát triển mới

Kết luận số 99-KL/TW của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu hoàn thiện mô hình quản trị quốc gia đối với không gian tầm thấp theo hướng thống nhất, hiện đại, dựa trên dữ liệu và quản trị rủi ro; đồng thời phát triển hạ tầng, công nghệ, nhân lực và hệ sinh thái doanh nghiệp để hình thành một lĩnh vực kinh tế - kỹ thuật mới.
Sản xuất công nghiệp lập mức tăng 9 tháng cao nhất kể từ năm 2019

Sản xuất công nghiệp lập mức tăng 9 tháng cao nhất kể từ năm 2019

Sản xuất công nghiệp tiếp tục trở thành điểm sáng của nền kinh tế khi chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 9 tháng năm 2026 ước tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng cao nhất trong 9 tháng kể từ năm 2019. Đáng chú ý, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,9%, đóng góp 10 điểm phần trăm vào mức tăng chung.
GDP Việt Nam 9 tháng tăng 9,01%, công nghiệp và xây dựng tiếp tục là động lực chính

GDP Việt Nam 9 tháng tăng 9,01%, công nghiệp và xây dựng tiếp tục là động lực chính

Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất định, GDP Việt Nam 9 tháng năm 2026 ước tăng 9,01% so với cùng kỳ năm trước. Công nghiệp và xây dựng tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ yếu, trong khi khu vực dịch vụ duy trì đà tăng tích cực.
Đồng Tháp mở không gian phát triển bằng hợp lực công tư

Đồng Tháp mở không gian phát triển bằng hợp lực công tư

Diễn đàn tại Đồng Tháp đặt trọng tâm vào đổi mới tư duy, liên kết nguồn lực và hợp lực công tư, hướng tới chuyển lợi thế nông nghiệp, công nghiệp, logistics và thị trường thành chuỗi giá trị mới cho doanh nghiệp.
Diễn đàn Biển Việt Nam 2026: Việt Nam cần tạo dựng nội lực biển

Diễn đàn Biển Việt Nam 2026: Việt Nam cần tạo dựng nội lực biển

Từ quản trị, dữ liệu, công nghệ đến tài chính, nhân lực và hợp tác quốc tế, Diễn đàn Biển Việt Nam 2026 đặt ra yêu cầu chuyển tiềm năng biển thành năng lực thực tế, tạo thêm động lực cho phát triển kinh tế biển xanh và bền vững.
Đắk Lắk vượt kịch bản giải ngân vốn đầu tư công 9 tháng và phản ứng chính sách cho "tháng trọng điểm"

Đắk Lắk vượt kịch bản giải ngân vốn đầu tư công 9 tháng và phản ứng chính sách cho "tháng trọng điểm"

Tính đến 12 giờ ngày 30/9/2026, Đắk Lắk đã ghi nhận dòng vốn đầu tư công giải ngân đạt hơn 7.096,5 tỷ đồng, chính thức cán mốc 101% so với cam kết đăng ký với Bộ Tài chính. Sự bứt phá này cho thấy hiệu quả điều hành sát sao của chính quyền, song áp lực giải ngân 100% cho cả năm vẫn đòi hỏi những chuyển dịch quản trị quyết liệt, không có chỗ cho sự chủ quan.
TP. Hồ Chí Minh tăng 17 bậc trên bảng xếp hạng tài chính toàn cầu

TP. Hồ Chí Minh tăng 17 bậc trên bảng xếp hạng tài chính toàn cầu

TP. Hồ Chí Minh vươn lên vị trí 67 trong bảng xếp hạng Trung tâm Tài chính Toàn cầu, tăng 17 bậc so với kỳ đánh giá tháng 3/2026. Kết quả này cho thấy vị thế tài chính của Thành phố đang được cải thiện, nhưng bài toán tiếp theo là biến thứ hạng thành sức hút dòng vốn thực tế.
Hạ tầng An Giang cần cất cánh trước khi rước “đại bàng” về xây tổ

Hạ tầng An Giang cần cất cánh trước khi rước “đại bàng” về xây tổ

APEC 2027 tại Phú Quốc đang đến gần, tạo thêm động lực để An Giang đẩy nhanh hạ tầng giao thông, tăng khả năng kết nối Rạch Giá, Long Xuyên, Phú Quốc với mạng lưới cao tốc, hàng không, đường thủy, qua đó mở rộng không gian phát triển và tạo thêm điều kiện thu hút các dòng vốn đầu tư mới.
Hà Nội mở đường tháo gỡ điểm nghẽn cho doanh nghiệp khoa học, công nghệ

Hà Nội mở đường tháo gỡ điểm nghẽn cho doanh nghiệp khoa học, công nghệ

Từ khó tiếp cận vốn, định giá tài sản trí tuệ đến bài toán thương mại hóa sản phẩm và tiếp cận thị trường, hàng loạt vướng mắc của doanh nghiệp khoa học, công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo và công nghệ số đã được Hà Nội trực tiếp lắng nghe, phân loại và đưa ra hướng xử lý.
Công nghiệp công nghệ số tăng tốc, doanh thu 9 tháng vượt 5,38 triệu tỷ đồng

Công nghiệp công nghệ số tăng tốc, doanh thu 9 tháng vượt 5,38 triệu tỷ đồng

Doanh thu công nghiệp công nghệ số tháng 9/2026 ước đạt 770.766 tỷ đồng, tăng 36% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng, lĩnh vực này đạt khoảng 5,39 triệu tỷ đồng, tăng 32,1%, tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cao.
Cần 846.000 tỷ đồng để phát triển cao tốc giai đoạn 2026 - 2030

Cần 846.000 tỷ đồng để phát triển cao tốc giai đoạn 2026 - 2030

Giai đoạn 2026 - 2030, nhu cầu vốn phát triển cao tốc ước khoảng 1,269 triệu tỷ đồng, trong đó khoảng 846.000 tỷ đồng cần tiếp tục cân đối, huy động. Bộ Xây dựng đang xúc tiến 29 dự án ưu tiên theo phương thức PPP.
Việt Nam hướng tới hệ sinh thái công nghệ mới, không chỉ dừng ở ứng dụng AI

Việt Nam hướng tới hệ sinh thái công nghệ mới, không chỉ dừng ở ứng dụng AI

Việt Nam đang chuyển trọng tâm từ mở rộng hạ tầng và gia tăng ứng dụng AI sang xây dựng một hệ sinh thái công nghệ có sự tham gia của Nhà nước, doanh nghiệp, trường đại học và tổ chức nghiên cứu. Mục tiêu là nâng cao năng lực phát triển, tích hợp, vận hành và từng bước làm chủ các công nghệ mới.
Standard Chartered dự báo GDP Việt Nam quý III tăng 8,7%

Standard Chartered dự báo GDP Việt Nam quý III tăng 8,7%

Standard Chartered dự báo GDP Việt Nam quý III/2026 tăng 8,7% so với cùng kỳ, nhỉnh hơn mức 8,4% của quý II. Sản xuất công nghiệp, xuất nhập khẩu và nhu cầu trong nước được kỳ vọng tiếp tục tạo lực đỡ cho tăng trưởng, trong khi môi trường kinh tế bên ngoài vẫn tiềm ẩn những yếu tố khó đoán.