Thứ ba 03/11/2026 16:03
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Điều chỉnh tuổi nghỉ hưu theo lộ trình cần được thực hiện sớm và bảo đảm các yếu tố kinh tế - xã hội

12/10/2020 00:00
Vấn đề điều chỉnh tuổi nghỉ hưu đã nhiều lần được đưa ra bàn thảo và lần nào cũng nhận được sự quan tâm trên tất cả các diễn đàn, từ báo chí chính thống đến mạng xã hội.

Thể chế hóa Nghị quyết của Đảng

Với quan điểm hướng tới BHXH toàn dân, mở rộng sàn an sinh xã hội để tất cả người hết tuổi lao động đều có lương hưu và từng bước cải thiện đời sống người nghỉ hưu, Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đưa ra nhiều định hướng chỉ đạo lớn, trong đó có vấn đề điều chỉnh tuổi nghỉ hưu theo mục tiêu tăng tuổi nghỉ hưu chung…

Sau gần 25 năm thực hiện BHXH theo mô hình tập trung, thống nhất, trước những yêu cầu cấp thiết phải xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật BHXH, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới, ngày 23/5/2018, Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội. Tại Nghị quyết nêu rõ: "Từ năm 2021, thực hiện điều chỉnh tuổi nghỉ hưu theo mục tiêu tăng tuổi nghỉ hưu chung, thu hẹp dần khoảng cách về giới trong quy định tuổi nghỉ hưu; đối với những ngành nghề đặc biệt, người lao động được quyền nghỉ hưu sớm, hoặc muộn hơn 5 tuổi so với tuổi nghỉ hưu chung.

Điều chỉnh tuổi nghỉ hưu cần có tầm nhìn dài hạn và có lộ trình phù hợp với tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, thất nghiệp; không gây tác động tiêu cực đến thị trường lao động; bảo đảm số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số; bình đẳng giới; cân đối Quỹ bảo hiểm xã hội trong dài hạn; xu hướng già hoá dân số; tính chất, loại hình lao động và giữa các ngành nghề, lĩnh vực".

Theo tinh thần này, việc điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu cũng cần phù hợp quy mô, cơ cấu, chất lượng, thể trạng sức khỏe và tuổi thọ của người lao động Việt Nam, tránh phải điều chỉnh đột ngột lên mức quá cao trong tương lai, bảo đảm hài hòa cung – cầu lao động, góp phần ổn định chính trị - xã hội.

Mặt khác, việc điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu cũng cần tính đến bảo vệ nhóm lao động yếu thế; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp thuận lợi trong quá trình tuyển dụng, sử dụng lao động, từng bước hình thành thị trường lao động đồng bộ và lành mạnh.

Việc điều chỉnh nào cũng cần bảo đảm tính khả thi trong thực thi các điều kiện, tiêu chuẩn lao động; bảo đảm sự đồng bộ của hệ thống pháp luật Việt Nam, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội và thể chế chính trị của Việt Nam, đặc biệt là các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản.

Quán triệt tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW, tại Tờ trình Bộ Chính trị về Đề án cải cách chính sách bảo hiểm xã hội, Ban cán sự Đảng Chính phủ đề xuất phương án tăng tuổi nghỉ hưu của nam lên 62 và nữ lên 60 và thực hiện kể từ năm 2021 với lộ trình phù hợp. Cụ thể hóa các nội dung này, tại Dự án Bộ luật Lao động Sửa đổi, Chính phủ đã đề xuất hai phương án điều chỉnh tuổi nghỉ hưu trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến:

Phương án 1: Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 03 tháng đối với nam và đủ 55 tuổi 04 tháng đối với nữ; sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 03 tháng đối với nam và 04 tháng đối với nữ cho đến khi nam đủ 62 tuổi, nữ đủ 60 tuổi.

Phương án 2: Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 04 tháng đối với nam và đủ 55 tuổi 06 tháng đối với nữ; sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 04 tháng đối với nam và 06 tháng đối với nữ cho đến khi nam đủ 62 tuổi, nữ đủ 60 tuổi.

Đồng thời, dự thảo cũng quy định:

Quyền nghỉ hưu sớm hơn không quá 5 tuổi đối với người lao động bị suy giảm khả năng lao động; làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; và một số công việc, nghề nghiệp đặc biệt.

Quyền nghỉ hưu muộn hơn không quá 5 tuổi đối với người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, người lao động làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt.

Việc hoàn thiện và trình Quốc hội cho ý kiến về Dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi) lần này, chính là nhằm thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng về việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế, về cải cách chính sách tiền lương, cải cách chính sách bảo hiểm xã hội và kiến tạo khung pháp luật về lao động, nhằm phát triển đồng bộ, liên thông thị trường lao động, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao./.

Góc nhìn từ thực tiễn

Tốc độ già hóa dân số đang tăng nhanh đưa Việt Nam tiệm cận gần với ngưỡng dân số già, tuổi thọ bình quân của người Việt Nam cũng được cải thiện nhiều với tỷ lệ sống khỏe sau 60 tuổi đứng thứ 41/183 quốc gia… - Đó là những con số tổng kết từ thực tiễn cho thấy sự cần thiết cũng như tính khả thi khi thực hiện điều chỉnh tuổi nghỉ hưu theo lộ trình.

Trong quá trình phát triển, việc điều chỉnh các chính sách kinh tế, xã hội cho phù hợp với điều kiện đặc thù của từng giai đoạn, từng thời kỳ là việc mà tất cả các quốc gia đều phải đối mặt. Có những chính sách khi điều chỉnh sẽ được nhận được sự đồng thuận, có những chính sách ít nhận được sự đồng thuận nhưng đứng trên góc nhìn thực tiễn vẫn phải triển khai. Việc điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu thường ít nhận được sự đồng thuận, điều này không chỉ xảy ra với Việt Nam mà với hầu hết các nước. Vậy thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam đang đặt ra những yêu cầu gì để cần xem xét, điều chỉnh tuổi nghỉ hưu?

Thứ nhất, điều chỉnh tuổi nghỉ hưu nhằm ứng phó với sự thiếu hụt lao động trong tương lai.

Theo báo cáo thống kê từ Bộ Lao động Thương binh và Xã hội và Tổ chức lao động Quốc tế, 15 năm năm trước, những năm 2004 - 2009, mỗi năm lực lượng lao động Việt Nam tăng 1,2 triệu người. Năm năm gần đây, từ 2014-2019, mỗi năm tăng chỉ 400 nghìn người, tức là chỉ tăng bằng 1/3 so với 15 năm trước. Điều này chứng tỏ Việt Nam đang bước nhanh ra thời kỳ dân số vàng để chuyển sang giai đoạn dân số già. Nếu không mở rộng tuổi nghỉ hưu, chắc chắn chúng ta sẽ phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt lao động trong tương lai. Kinh nghiệm các nước là phải điều chỉnh tuổi nghỉ hưu phải tiến hành sớm, từ trước khi bước sang giai đoạn già hóa dân số thì mới kịp thời ứng phó. Đây chính là thời điểm phù hợp để chúng ta tiến hành điều chỉnh tuổi nghỉ hưu nhằm chủ động ứng phó sự thiếu hụt lao động trong tương lai.

Thứ hai, điều chỉnh tuổi nghỉ hưu nhằm hướng tới thực hiện các công ước quốc tế về bình đẳng giới.

Trong suốt thời gian qua, chúng ta đã duy trì khoảng cách tuổi nghỉ hưu giữa nam và nữ là 05 tuổi với lý do với các đặc điểm thể chất, tâm sinh lý, phụ nữ cần được nghỉ ngơi sớm hơn nam giới. Nhưng thực tế cho thấy, khi tuổi nghỉ hưu của nam và nữ chênh lệch quá lớn, sẽ hạn chế cơ hội làm việc và thăng tiến của phụ nữ. Trong một phát biểu mới đây, Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam Nguyễn Thị Thu Hà cho rằng, vì tuổi nghỉ hưu sớm hơn 05 năm nên cơ hội việc làm và thăng tiến của nữ thấp hơn nam. Cũng vì nghỉ hưu sớm hơn nên mức lương tối đa khi đi làm của nữ cũng thấp hơn, thời gian tham gia BHXH ngắn hơn, do vậy lương hưu của nữ cũng thấp hơn nam. Vì vậy, cuộc sống khi về già của phụ nữ khó khăn hơn nam giới. Theo Công ước CEDAW về xóa bỏ các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, khuyến nghị tuổi nghỉ hưu nam và nữ thu hẹp lại tiến tới bằng nhau.

Thứ ba, điều chỉnh tuổi nghỉ hưu bảo đảm phù hợp sức khỏe và nhu cầu của người lao động.

Khi dự thảo Bộ luật Lao động được đưa ra xin ý kiến rộng rãi, nhiều người lo lắng tuổi thọ của Việt Nam tăng nhưng số năm sống khỏe mạnh sau tuổi 60 thấp. Vậy liệu sau tuổi 60 người lao động có còn đủ sức khỏe để đi làm?

Theo số liệu được công bố tại Website của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) với lần truy cập gần nhất ngày 06/4/2018, khảo sát số liệu đánh giá về chỉ số sống khỏe mạnh sau 60 tuổi của 183 quốc gia, Việt Nam xếp thứ 41, tức là chúng ta đứng sau 40 nước và đứng trên 142 nước. Số năm sống khỏe mạnh sau tuổi 60 của Việt Nam là 17 năm, quốc gia có chỉ số cao nhất là Singapore với 21 năm và Nhật Bản đứng thứ ba với 20,8 năm. Ngay tại 46 quốc gia trong khu vực châu Á, đánh giá về chỉ số sống khỏe mạnh sau tuổi 60, Việt Nam chỉ đứng thứ năm sau Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, Israel. Việc điều chỉnh phụ nữ tăng thêm 5 tuổi và nam thêm 2 tuổi có thể khả thi khi nhìn vào chỉ số này.

Số liệu này hoàn toàn có thể tin cậy khi công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân của cả hệ thống chính trị trong thời gian qua đã đạt được nhiều thành tựu, với 96,4% xã, phường có trạm y tế, rất nhiều mặt về đời sống được cải thiện. Chúng ta loại trừ nhiều dịch bệnh. Việc tiếp cận y tế ở từng vùng, miền có thể còn có những điều chưa thực sự hài lòng nhưng được cải thiện rất nhiều và rất rõ rệt.

Thứ tư, bảo đảm tốt hơn nguyên tắc đóng – hưởng BHXH và góp phần cải thiện đời sống người nghỉ hưu.

Với việc nâng dần tuổi nghỉ hưu, mức lương làm căn cứ đóng BHXH của người lao động trước khi nghỉ hưu sẽ cao hơn; số năm tham gia BHXH nhiều lên, đồng nghĩa với việc tỷ lệ hưởng lương hưu cao hơn và mức tiền lương bình quân làm căn cứ tính hưởng lương hưu cao hơn. Quyền lợi BHXH của người lao động cũng sẽ tốt hơn, mức lương hưu cao hơn bảo đảm tốt hơn cuộc sống khi nghỉ hưu. Mặt khác, với những năm đóng BHXH vượt lên, người lao động vẫn được nhận trợ cấp BHXH một lần khi nghỉ hưu.

Tất nhiêu, bên cạnh đó cũng có những trường hợp ngoại lệ như có những công việc, ngành nghề khó có thể làm việc đến tuổi 60 và 62, nhưng những trường hợp ngoại lệ này vẫn sẽ có những quy định linh hoạt, đồng thời bên cạnh đó cũng cần có những chính sách đồng bộ, tổng thể hơn về đào tạo nghề, đào tạo chuyển đổi nghề với một số ngành, nghề có tuổi nghề ngắn...

Từ những phân tích trên có thể thấy, việc điều chỉnh tuổi nghỉ hưu lần này đã được các cơ quan soạn thảo hết sức cân nhắc, thận trọng. Các căn cứ thực tiễn nêu trên cho thấy, vấn đề điều chỉnh tuổi nghỉ hưu đã chọn được thời điểm thích hợp và thực sự là yêu cầu cấp thiết từ thực tiễn.

Ths. Dương Ngọc Ánh

Tin bài khác
Hải Phòng đồng hành cùng doanh nghiệp công nghệ cao, tạo động lực tăng trưởng công nghiệp

Hải Phòng đồng hành cùng doanh nghiệp công nghệ cao, tạo động lực tăng trưởng công nghiệp

Với mục tiêu kịp thời tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy tiến độ các dự án và mở rộng năng lực sản xuất, ngày 3/11, Phó Chủ tịch UBND thành phố Lê Trung Kiên dẫn đầu Đoàn công tác thành phố đến thăm, kiểm tra và làm việc với 3 doanh nghiệp công nghệ cao trọng điểm trên địa bàn phường Đông Hải. Qua đó, thành phố tiếp tục khẳng định vai trò đồng hành, tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế địa phương.
Vốn FDI vào Việt Nam lập đỉnh 17 năm, vốn giải ngân vượt 24 tỷ USD

Vốn FDI vào Việt Nam lập đỉnh 17 năm, vốn giải ngân vượt 24 tỷ USD

Thu hút đầu tư nước ngoài tiếp tục là điểm sáng của nền kinh tế trong 10 tháng năm 2026 khi tổng vốn FDI đăng ký đạt 54,85 tỷ USD, tăng 74% so với cùng kỳ và cao nhất kể từ năm 2009. Đáng chú ý, vốn FDI thực hiện đạt 24,08 tỷ USD, mức cao nhất trong cùng kỳ 5 năm qua, cho thấy dòng vốn ngoại không chỉ gia tăng về đăng ký mà còn được đẩy mạnh giải ngân.
Sản xuất công nghiệp tăng tốc, chỉ số IIP 10 tháng đạt mức cao nhất 8 năm

Sản xuất công nghiệp tăng tốc, chỉ số IIP 10 tháng đạt mức cao nhất 8 năm

Đà tăng trưởng của ngành công nghiệp tiếp tục được củng cố trong tháng 10/2026, với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 15% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng, IIP tăng 12,4% – mức cao nhất trong cùng kỳ giai đoạn 2019-2026, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò động lực chủ yếu.
Nhà ở xã hội sau 5 năm có thể không được bán theo giá thị trường

Nhà ở xã hội sau 5 năm có thể không được bán theo giá thị trường

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh khẳng định nhà ở xã hội không thể trở thành công cụ đầu cơ sau khi người mua đã hưởng chính sách ưu đãi. Theo hướng chỉnh lý dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi), sau 5 năm, chủ sở hữu vẫn phải chuyển nhượng cho người đủ điều kiện hưởng chính sách, với giá không vượt mức giá tại thời điểm mua. Tuy nhiên, cơ chế xác định giá, mua lại và chuyển tiếp vẫn là những vấn đề cần được làm rõ.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Định vị Việt Nam thành trung tâm logistics khu vực và thế giới

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Định vị Việt Nam thành trung tâm logistics khu vực và thế giới

Nhấn mạnh yêu cầu nâng tầm chiến lược phát triển logistics quốc gia, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt mục tiêu đưa Việt Nam trở thành trung tâm trung chuyển, phân phối hàng hóa quan trọng của khu vực và thế giới, đồng thời yêu cầu sớm tháo gỡ những điểm nghẽn về hạ tầng, thể chế và kết nối chuỗi cung ứng.
Tuyên Quang mở rộng thị trường, nâng giá trị hàng hóa

Tuyên Quang mở rộng thị trường, nâng giá trị hàng hóa

Với mạng lưới phân phối ngày càng đa dạng và hoạt động giao thương biên giới tăng trưởng, Tuyên Quang đang mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa. Để khai thác hiệu quả lợi thế này, tỉnh chú trọng kết nối sản xuất với nhu cầu thị trường, nâng chất lượng sản phẩm và phát triển xuất khẩu bền vững.
Lào Cai tăng cường quản lý giá, chủ động nguồn hàng dịp cuối năm

Lào Cai tăng cường quản lý giá, chủ động nguồn hàng dịp cuối năm

Trước nhu cầu tiêu dùng thường tăng vào những tháng cuối năm, UBND tỉnh Lào Cai yêu cầu các sở, ngành và địa phương chủ động theo dõi cung cầu, triển khai các biện pháp bình ổn thị trường, kiểm soát lạm phát, không để xảy ra tình trạng thiếu hàng hoặc tăng giá bất hợp lý, nhất là trong dịp Tết Nguyên đán năm 2027.
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện chính sách ưu đãi đầu tư

Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện chính sách ưu đãi đầu tư

Trong cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư quốc tế ngày càng gay gắt, Việt Nam đứng trước yêu cầu vừa tạo sức hấp dẫn đủ lớn đối với các nhà đầu tư, vừa bảo đảm mỗi đồng ngân sách và nguồn lực hỗ trợ mang lại giá trị thực chất cho nền kinh tế. Định hướng sửa đổi Luật Đầu tư, chính sách ưu đãi đầu tư lần này đặt trọng tâm vào chất lượng dòng vốn, mức độ lan tỏa và trách nhiệm thực hiện cam kết của nhà đầu tư.
Ưu đãi đầu tư cần đi cùng cam kết và hiệu quả thực tế

Ưu đãi đầu tư cần đi cùng cam kết và hiệu quả thực tế

Trước áp lực cạnh tranh thu hút dòng vốn quốc tế, Việt Nam cần thiết kế chính sách ưu đãi đầu tư đủ sức hấp dẫn nhưng không dừng ở quy mô vốn đăng ký. Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn, các khoản hỗ trợ phải gắn với kết quả đầu ra có thể đo lường, kiểm tra, giám sát; trường hợp nhà đầu tư không thực hiện đúng cam kết cần có cơ chế chấm dứt hoặc thu hồi ưu đãi.
Hơn 12,87 triệu tỷ đồng tài sản công đặt ra áp lực chống lãng phí

Hơn 12,87 triệu tỷ đồng tài sản công đặt ra áp lực chống lãng phí

Cả nước đã kiểm kê 20 loại tài sản công với tổng nguyên giá hơn 12,87 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, đằng sau quy mô nguồn lực khổng lồ là những bất cập trong hạch toán, bàn giao và sử dụng tài sản. Yêu cầu hiện nay không chỉ là hoàn thiện sổ sách mà phải đưa tài sản có khả năng khai thác trở lại phục vụ hoạt động công, phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu.
Tăng trưởng 10% đặt quý IV trước áp lực tăng tốc 12,5%

Tăng trưởng 10% đặt quý IV trước áp lực tăng tốc 12,5%

Mục tiêu tăng trưởng 10% trong năm 2026 đang đặt nền kinh tế trước yêu cầu tăng tốc mạnh trong quý cuối năm. Trước Quốc hội, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng cho biết Chính phủ sẽ tập trung tháo gỡ những rào cản, đẩy nhanh giải ngân đầu tư công và triển khai các giải pháp kiểm soát lạm phát, nhằm tạo dư địa cho sản xuất, kinh doanh và giữ ổn định kinh tế vĩ mô.
Doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh kiến nghị tháo gỡ vướng mắc từ đầu tư đến giải thể

Doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh kiến nghị tháo gỡ vướng mắc từ đầu tư đến giải thể

Tại Hội nghị Đối thoại Doanh nghiệp - Chính quyền TP. Hồ Chí Minh lần thứ 281, ngày 30/10, nhiều kiến nghị tập trung vào những thủ tục phát sinh trong suốt vòng đời hoạt động của doanh nghiệp, từ đăng ký đầu tư, thay đổi nội dung kinh doanh đến giải thể và chấm dứt hoạt động đơn vị trực thuộc. Những vấn đề được nêu ra đặt ra yêu cầu không chỉ giải đáp tại hội nghị mà còn phải theo dõi, đôn đốc và công khai kết quả xử lý.
IMF dự báo bước tiến mới về GDP bình quân đầu người Việt Nam

IMF dự báo bước tiến mới về GDP bình quân đầu người Việt Nam

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo, GDP danh nghĩa bình quân đầu người của Việt Nam có thể đạt 5.259 USD trong năm 2026, cao hơn mức 5.153 USD của Indonesia. Đây là bước tiến đáng chú ý trong tương quan quy mô kinh tế giữa hai nước, trong bối cảnh Việt Nam tiếp tục thu hút dòng vốn đầu tư và mở rộng sản xuất hướng tới xuất khẩu.
Quốc hội thảo luận mục tiêu tăng trưởng từ 10% trong năm 2027

Quốc hội thảo luận mục tiêu tăng trưởng từ 10% trong năm 2027

Tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, các đại biểu sẽ thảo luận nhiều nội dung quan trọng. Trong đó, mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên trong năm 2027 được đặt ra cùng yêu cầu giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.
Việt Nam đề xuất 3 trụ cột hợp tác nông nghiệp ASEAN giai đoạn 2026-2030

Việt Nam đề xuất 3 trụ cột hợp tác nông nghiệp ASEAN giai đoạn 2026-2030

Tại Hội nghị Bộ trưởng Nông Lâm nghiệp ASEAN lần thứ 48 (AMAF 48) ở Singapore, Việt Nam đề xuất ba định hướng ưu tiên nhằm củng cố an ninh lương thực, thúc đẩy nông nghiệp xanh, thích ứng biến đổi khí hậu và đẩy nhanh chuyển đổi số, qua đó nâng cao khả năng chống chịu và sức cạnh tranh của ngành nông nghiệp khu vực.