Thứ bảy 04/07/2026 04:48
Hotline: 024.355.63.010
Thời cuộc

Điều chỉnh tuổi nghỉ hưu theo lộ trình cần được thực hiện sớm và bảo đảm các yếu tố kinh tế - xã hội

12/10/2020 00:00
Vấn đề điều chỉnh tuổi nghỉ hưu đã nhiều lần được đưa ra bàn thảo và lần nào cũng nhận được sự quan tâm trên tất cả các diễn đàn, từ báo chí chính thống đến mạng xã hội.

Thể chế hóa Nghị quyết của Đảng

Với quan điểm hướng tới BHXH toàn dân, mở rộng sàn an sinh xã hội để tất cả người hết tuổi lao động đều có lương hưu và từng bước cải thiện đời sống người nghỉ hưu, Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đưa ra nhiều định hướng chỉ đạo lớn, trong đó có vấn đề điều chỉnh tuổi nghỉ hưu theo mục tiêu tăng tuổi nghỉ hưu chung…

Sau gần 25 năm thực hiện BHXH theo mô hình tập trung, thống nhất, trước những yêu cầu cấp thiết phải xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật BHXH, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới, ngày 23/5/2018, Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội. Tại Nghị quyết nêu rõ: "Từ năm 2021, thực hiện điều chỉnh tuổi nghỉ hưu theo mục tiêu tăng tuổi nghỉ hưu chung, thu hẹp dần khoảng cách về giới trong quy định tuổi nghỉ hưu; đối với những ngành nghề đặc biệt, người lao động được quyền nghỉ hưu sớm, hoặc muộn hơn 5 tuổi so với tuổi nghỉ hưu chung.

Điều chỉnh tuổi nghỉ hưu cần có tầm nhìn dài hạn và có lộ trình phù hợp với tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, thất nghiệp; không gây tác động tiêu cực đến thị trường lao động; bảo đảm số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số; bình đẳng giới; cân đối Quỹ bảo hiểm xã hội trong dài hạn; xu hướng già hoá dân số; tính chất, loại hình lao động và giữa các ngành nghề, lĩnh vực".

Theo tinh thần này, việc điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu cũng cần phù hợp quy mô, cơ cấu, chất lượng, thể trạng sức khỏe và tuổi thọ của người lao động Việt Nam, tránh phải điều chỉnh đột ngột lên mức quá cao trong tương lai, bảo đảm hài hòa cung – cầu lao động, góp phần ổn định chính trị - xã hội.

Mặt khác, việc điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu cũng cần tính đến bảo vệ nhóm lao động yếu thế; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp thuận lợi trong quá trình tuyển dụng, sử dụng lao động, từng bước hình thành thị trường lao động đồng bộ và lành mạnh.

Việc điều chỉnh nào cũng cần bảo đảm tính khả thi trong thực thi các điều kiện, tiêu chuẩn lao động; bảo đảm sự đồng bộ của hệ thống pháp luật Việt Nam, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội và thể chế chính trị của Việt Nam, đặc biệt là các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản.

Quán triệt tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW, tại Tờ trình Bộ Chính trị về Đề án cải cách chính sách bảo hiểm xã hội, Ban cán sự Đảng Chính phủ đề xuất phương án tăng tuổi nghỉ hưu của nam lên 62 và nữ lên 60 và thực hiện kể từ năm 2021 với lộ trình phù hợp. Cụ thể hóa các nội dung này, tại Dự án Bộ luật Lao động Sửa đổi, Chính phủ đã đề xuất hai phương án điều chỉnh tuổi nghỉ hưu trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến:

Phương án 1: Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 03 tháng đối với nam và đủ 55 tuổi 04 tháng đối với nữ; sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 03 tháng đối với nam và 04 tháng đối với nữ cho đến khi nam đủ 62 tuổi, nữ đủ 60 tuổi.

Phương án 2: Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 04 tháng đối với nam và đủ 55 tuổi 06 tháng đối với nữ; sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 04 tháng đối với nam và 06 tháng đối với nữ cho đến khi nam đủ 62 tuổi, nữ đủ 60 tuổi.

Đồng thời, dự thảo cũng quy định:

Quyền nghỉ hưu sớm hơn không quá 5 tuổi đối với người lao động bị suy giảm khả năng lao động; làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; và một số công việc, nghề nghiệp đặc biệt.

Quyền nghỉ hưu muộn hơn không quá 5 tuổi đối với người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, người lao động làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt.

Việc hoàn thiện và trình Quốc hội cho ý kiến về Dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi) lần này, chính là nhằm thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng về việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế, về cải cách chính sách tiền lương, cải cách chính sách bảo hiểm xã hội và kiến tạo khung pháp luật về lao động, nhằm phát triển đồng bộ, liên thông thị trường lao động, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao./.

Góc nhìn từ thực tiễn

Tốc độ già hóa dân số đang tăng nhanh đưa Việt Nam tiệm cận gần với ngưỡng dân số già, tuổi thọ bình quân của người Việt Nam cũng được cải thiện nhiều với tỷ lệ sống khỏe sau 60 tuổi đứng thứ 41/183 quốc gia… - Đó là những con số tổng kết từ thực tiễn cho thấy sự cần thiết cũng như tính khả thi khi thực hiện điều chỉnh tuổi nghỉ hưu theo lộ trình.

Trong quá trình phát triển, việc điều chỉnh các chính sách kinh tế, xã hội cho phù hợp với điều kiện đặc thù của từng giai đoạn, từng thời kỳ là việc mà tất cả các quốc gia đều phải đối mặt. Có những chính sách khi điều chỉnh sẽ được nhận được sự đồng thuận, có những chính sách ít nhận được sự đồng thuận nhưng đứng trên góc nhìn thực tiễn vẫn phải triển khai. Việc điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu thường ít nhận được sự đồng thuận, điều này không chỉ xảy ra với Việt Nam mà với hầu hết các nước. Vậy thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam đang đặt ra những yêu cầu gì để cần xem xét, điều chỉnh tuổi nghỉ hưu?

Thứ nhất, điều chỉnh tuổi nghỉ hưu nhằm ứng phó với sự thiếu hụt lao động trong tương lai.

Theo báo cáo thống kê từ Bộ Lao động Thương binh và Xã hội và Tổ chức lao động Quốc tế, 15 năm năm trước, những năm 2004 - 2009, mỗi năm lực lượng lao động Việt Nam tăng 1,2 triệu người. Năm năm gần đây, từ 2014-2019, mỗi năm tăng chỉ 400 nghìn người, tức là chỉ tăng bằng 1/3 so với 15 năm trước. Điều này chứng tỏ Việt Nam đang bước nhanh ra thời kỳ dân số vàng để chuyển sang giai đoạn dân số già. Nếu không mở rộng tuổi nghỉ hưu, chắc chắn chúng ta sẽ phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt lao động trong tương lai. Kinh nghiệm các nước là phải điều chỉnh tuổi nghỉ hưu phải tiến hành sớm, từ trước khi bước sang giai đoạn già hóa dân số thì mới kịp thời ứng phó. Đây chính là thời điểm phù hợp để chúng ta tiến hành điều chỉnh tuổi nghỉ hưu nhằm chủ động ứng phó sự thiếu hụt lao động trong tương lai.

Thứ hai, điều chỉnh tuổi nghỉ hưu nhằm hướng tới thực hiện các công ước quốc tế về bình đẳng giới.

Trong suốt thời gian qua, chúng ta đã duy trì khoảng cách tuổi nghỉ hưu giữa nam và nữ là 05 tuổi với lý do với các đặc điểm thể chất, tâm sinh lý, phụ nữ cần được nghỉ ngơi sớm hơn nam giới. Nhưng thực tế cho thấy, khi tuổi nghỉ hưu của nam và nữ chênh lệch quá lớn, sẽ hạn chế cơ hội làm việc và thăng tiến của phụ nữ. Trong một phát biểu mới đây, Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam Nguyễn Thị Thu Hà cho rằng, vì tuổi nghỉ hưu sớm hơn 05 năm nên cơ hội việc làm và thăng tiến của nữ thấp hơn nam. Cũng vì nghỉ hưu sớm hơn nên mức lương tối đa khi đi làm của nữ cũng thấp hơn, thời gian tham gia BHXH ngắn hơn, do vậy lương hưu của nữ cũng thấp hơn nam. Vì vậy, cuộc sống khi về già của phụ nữ khó khăn hơn nam giới. Theo Công ước CEDAW về xóa bỏ các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, khuyến nghị tuổi nghỉ hưu nam và nữ thu hẹp lại tiến tới bằng nhau.

Thứ ba, điều chỉnh tuổi nghỉ hưu bảo đảm phù hợp sức khỏe và nhu cầu của người lao động.

Khi dự thảo Bộ luật Lao động được đưa ra xin ý kiến rộng rãi, nhiều người lo lắng tuổi thọ của Việt Nam tăng nhưng số năm sống khỏe mạnh sau tuổi 60 thấp. Vậy liệu sau tuổi 60 người lao động có còn đủ sức khỏe để đi làm?

Theo số liệu được công bố tại Website của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) với lần truy cập gần nhất ngày 06/4/2018, khảo sát số liệu đánh giá về chỉ số sống khỏe mạnh sau 60 tuổi của 183 quốc gia, Việt Nam xếp thứ 41, tức là chúng ta đứng sau 40 nước và đứng trên 142 nước. Số năm sống khỏe mạnh sau tuổi 60 của Việt Nam là 17 năm, quốc gia có chỉ số cao nhất là Singapore với 21 năm và Nhật Bản đứng thứ ba với 20,8 năm. Ngay tại 46 quốc gia trong khu vực châu Á, đánh giá về chỉ số sống khỏe mạnh sau tuổi 60, Việt Nam chỉ đứng thứ năm sau Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, Israel. Việc điều chỉnh phụ nữ tăng thêm 5 tuổi và nam thêm 2 tuổi có thể khả thi khi nhìn vào chỉ số này.

Số liệu này hoàn toàn có thể tin cậy khi công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân của cả hệ thống chính trị trong thời gian qua đã đạt được nhiều thành tựu, với 96,4% xã, phường có trạm y tế, rất nhiều mặt về đời sống được cải thiện. Chúng ta loại trừ nhiều dịch bệnh. Việc tiếp cận y tế ở từng vùng, miền có thể còn có những điều chưa thực sự hài lòng nhưng được cải thiện rất nhiều và rất rõ rệt.

Thứ tư, bảo đảm tốt hơn nguyên tắc đóng – hưởng BHXH và góp phần cải thiện đời sống người nghỉ hưu.

Với việc nâng dần tuổi nghỉ hưu, mức lương làm căn cứ đóng BHXH của người lao động trước khi nghỉ hưu sẽ cao hơn; số năm tham gia BHXH nhiều lên, đồng nghĩa với việc tỷ lệ hưởng lương hưu cao hơn và mức tiền lương bình quân làm căn cứ tính hưởng lương hưu cao hơn. Quyền lợi BHXH của người lao động cũng sẽ tốt hơn, mức lương hưu cao hơn bảo đảm tốt hơn cuộc sống khi nghỉ hưu. Mặt khác, với những năm đóng BHXH vượt lên, người lao động vẫn được nhận trợ cấp BHXH một lần khi nghỉ hưu.

Tất nhiêu, bên cạnh đó cũng có những trường hợp ngoại lệ như có những công việc, ngành nghề khó có thể làm việc đến tuổi 60 và 62, nhưng những trường hợp ngoại lệ này vẫn sẽ có những quy định linh hoạt, đồng thời bên cạnh đó cũng cần có những chính sách đồng bộ, tổng thể hơn về đào tạo nghề, đào tạo chuyển đổi nghề với một số ngành, nghề có tuổi nghề ngắn...

Từ những phân tích trên có thể thấy, việc điều chỉnh tuổi nghỉ hưu lần này đã được các cơ quan soạn thảo hết sức cân nhắc, thận trọng. Các căn cứ thực tiễn nêu trên cho thấy, vấn đề điều chỉnh tuổi nghỉ hưu đã chọn được thời điểm thích hợp và thực sự là yêu cầu cấp thiết từ thực tiễn.

Ths. Dương Ngọc Ánh

Tin bài khác
TP. Hồ Chí Minh tăng trưởng 8,55% trong nửa đầu năm 2026, FDI vượt 6,8 tỷ USD

TP. Hồ Chí Minh tăng trưởng 8,55% trong nửa đầu năm 2026, FDI vượt 6,8 tỷ USD

Kinh tế TP. Hồ Chí Minh vẫn duy trì đà tăng trưởng tích cực với GRDP 6 tháng đầu năm 2026 tăng 8,55%. Khu vực dịch vụ tiếp tục là động lực chính, trong khi thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) bứt phá, tạo thêm lực đẩy cho tăng trưởng.
Quảng Ninh tăng trưởng vượt kịch bản, thu ngân sách bứt phá sau 6 tháng đầu năm

Quảng Ninh tăng trưởng vượt kịch bản, thu ngân sách bứt phá sau 6 tháng đầu năm

GRDP 6 tháng đầu năm 2026 của Quảng Ninh ước tăng 11,11%, vượt kịch bản đề ra. Cùng với đó, thu ngân sách đạt hơn 48.500 tỷ đồng, tăng 61% so với cùng kỳ và giải ngân đầu tư công tiếp tục thuộc nhóm dẫn đầu cả nước.
Cục Thống kê: 3 động lực giúp công nghiệp duy trì đà tăng trưởng

Cục Thống kê: 3 động lực giúp công nghiệp duy trì đà tăng trưởng

Theo Trưởng ban Thống kê Công nghiệp và Xây dựng (Cục Thống kê), công nghiệp Việt Nam đang được hỗ trợ bởi ba động lực lớn gồm FDI, đơn hàng xuất khẩu và đầu tư công. Dù vậy, doanh nghiệp vẫn chịu sức ép từ chi phí đầu vào và vận tải, đòi hỏi các giải pháp hỗ trợ kịp thời.
Chốt thỏa thuận FTA với khối EFTA, thủy sản, công nghiệp rộng đường sang Bắc Âu

Chốt thỏa thuận FTA với khối EFTA, thủy sản, công nghiệp rộng đường sang Bắc Âu

Bước ngoặt quan trọng này mở ra cơ hội đưa thuế suất nhiều dòng hàng công nghiệp, thủy sản về 0%, đồng thời thúc đẩy làn sóng đầu tư công nghệ cao từ các nền kinh tế phát triển hàng đầu châu Âu vào Việt Nam.
Cục Thống kê chỉ ra 4 động lực và 3 rủi ro doanh nghiệp cần lưu ý trong nửa cuối năm

Cục Thống kê chỉ ra 4 động lực và 3 rủi ro doanh nghiệp cần lưu ý trong nửa cuối năm

Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, bà Phí Thị Hương Nga, Trưởng ban Thống kê Công nghiệp và Xây dựng (Cục Thống kê, Bộ Tài chính), cho rằng doanh nghiệp Việt Nam vẫn có nhiều dư địa tăng trưởng nhờ nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định, đầu tư công được đẩy mạnh, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục dịch chuyển vào Việt Nam và các chính sách hỗ trợ của Chính phủ. Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng cần chủ động ứng phó với những rủi ro từ thị trường xuất khẩu, chi phí đầu vào và nguồn cung vật liệu xây dựng.
Sàn giao dịch carbon hoạt động - thêm động lực phát triển cho ngành nông, lâm nghiệp

Sàn giao dịch carbon hoạt động - thêm động lực phát triển cho ngành nông, lâm nghiệp

Theo ông Đậu Ngọc Hùng, Trưởng ban Thống kê Nông, lâm nghiệp và Thủy sản (Cục Thống kê, Bộ Tài chính), việc Sàn giao dịch carbon trong nước chính thức vận hành sẽ không được ghi nhận trực tiếp vào giá trị sản xuất của ngành nông, lâm nghiệp, song sẽ tạo tác động tích cực thông qua cơ chế chi trả từ tín chỉ carbon, góp phần khuyến khích bảo vệ và phát triển rừng bền vững.
Xuất nhập khẩu vượt 549 tỷ USD, nhập khẩu tăng mạnh theo đà phục hồi sản xuất

Xuất nhập khẩu vượt 549 tỷ USD, nhập khẩu tăng mạnh theo đà phục hồi sản xuất

Sáu tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt gần 550 tỷ USD, tăng 27,1% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu, phản ánh nhu cầu nguyên liệu, máy móc phục vụ sản xuất gia tăng, trong bối cảnh hoạt động sản xuất, đặc biệt ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, tiếp tục khởi sắc.
Đầu tư tăng tốc, vốn FDI giải ngân cao nhất 5 năm

Đầu tư tăng tốc, vốn FDI giải ngân cao nhất 5 năm

Sáu tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (vốn FDI) thực hiện đạt 13,03 tỷ USD – mức cao nhất của sáu tháng đầu năm trong giai đoạn 2022-2026, cho thấy niềm tin của nhà đầu tư đối với môi trường đầu tư Việt Nam tiếp tục được củng cố.
Sản xuất công nghiệp tăng mạnh nhất trong 7 năm, chế biến chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng

Sản xuất công nghiệp tăng mạnh nhất trong 7 năm, chế biến chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng

Sản xuất công nghiệp tiếp tục ghi nhận những tín hiệu tích cực trong nửa đầu năm 2026 khi chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước - mức tăng cao nhất kể từ năm 2019. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cùng sự phục hồi của khai khoáng và sản xuất điện.
GDP Việt Nam tăng 8,18% nửa đầu 2026 giữa bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động

GDP Việt Nam tăng 8,18% nửa đầu 2026 giữa bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động

Trong bối cảnh kinh tế thế giới suy giảm dự báo, tăng trưởng GDP Việt Nam 6 tháng đầu năm vẫn đạt 8,18%, cho thấy sức chống chịu và động lực phục hồi mạnh mẽ của nền kinh tế.
Phó Thủ tướng chỉ đạo kiểm tra giá cước vận tải, yêu cầu giảm khi nhiên liệu hạ nhiệt

Phó Thủ tướng chỉ đạo kiểm tra giá cước vận tải, yêu cầu giảm khi nhiên liệu hạ nhiệt

Thông báo số 345/TB-VPCP kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng nêu rõ yêu cầu xử lý nghiêm các trường hợp chậm điều chỉnh giảm giá cước khi chi phí đầu vào giảm, đồng thời ngăn chặn các hành vi đầu cơ gây bất ổn thị trường.
Đổi mới Luật doanh nghiệp nhỏ và vừa mở rộng không gian phát triển kinh tế tư nhân

Đổi mới Luật doanh nghiệp nhỏ và vừa mở rộng không gian phát triển kinh tế tư nhân

Dự thảo Luật sửa đổi đang mở ra kỳ vọng lớn khi chuyển mạnh sang tư duy phục vụ doanh nghiệp, tháo gỡ điểm nghẽn chính sách, tạo nền tảng phát triển bền vững cho khu vực kinh tế tư nhân.
Đề xuất hơn 334.000 tỷ đồng đầu tư cao tốc thúc đẩy liên kết Đông - Tây

Đề xuất hơn 334.000 tỷ đồng đầu tư cao tốc thúc đẩy liên kết Đông - Tây

Bộ Xây dựng đề xuất bố trí nguồn vốn lớn phát triển 12 dự án cao tốc trọng điểm, ưu tiên kết nối hai cực tăng trưởng và hành lang Đông Tây nhằm tạo động lực bứt phá kinh tế.
Sửa cơ chế điện khí LNG, cắt 50% chi phí thủ tục thu hút đại bàng năng lượng Nhật Bản

Sửa cơ chế điện khí LNG, cắt 50% chi phí thủ tục thu hút đại bàng năng lượng Nhật Bản

Tại buổi tiếp lãnh đạo hai tập đoàn năng lượng lớn của Nhật Bản là Tokyo Gas và Marubeni vào chiều 2/7, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc khẳng định Việt Nam đang đẩy mạnh cải cách thể chế, tháo gỡ rào cản tài chính để thúc đẩy các dự án năng lượng công nghệ cao.
Phú Thọ vào cuộc cùng siêu dự án Vành đai 5 hơn 235.700 tỷ đồng

Phú Thọ vào cuộc cùng siêu dự án Vành đai 5 hơn 235.700 tỷ đồng

Dự án Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội với tổng vốn hơn 235.700 tỷ đồng đang được thúc đẩy hoàn thiện, mở ra dư địa phát triển mới cho Phú Thọ và các địa phương phía Bắc.