Thứ tư 26/08/2026 08:12
Hotline: 024.355.63.010
Thời cuộc

Doanh nghiệp Việt cần làm gì để ứng phó hiệu quả với các rào cản phi thuế quan ?

Dù hầu hết hàng hóa xuất khẩu sang thị trường ASEAN đều được hưởng ưu đãi với mức thuế quan 0%, nhiều doanh nghiệp Việt vẫn gặp khó khi xuất khẩu nông sản, thủy sản và hàng tiêu dùng do vướng rào cản phi thuế quan.
Doanh nghiệp Việt cần làm gì để ứng phó hiệu quả với các rào cản phi thuế quan ?
Phiên thảo luận tại Hội thảo “Gỡ rào cản phi thuế quan vì thịnh vượng chung ASEAN”.

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực ngày càng sâu rộng, các rào cản phi thuế quan (NTBs) đang nổi lên như một thách thức đáng kể đối với doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực nông sản, thủy sản và hàng tiêu dùng nhanh (FMCG).

Thị trường ASEAN: Cơ hội nhưng không ít thách thức

Chia sẻ tại Hội thảo “Gỡ rào cản phi thuế quan vì thịnh vượng chung ASEAN” tổ chức mới đây, ông Tô Việt Châu - Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường - nhấn mạnh: “ASEAN là thị trường giàu tiềm năng cho xuất khẩu nông lâm thủy sản Việt Nam. Với mức thuế quan ưu đãi 0% theo Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA), cùng với vị trí địa lý thuận lợi, đây là thị trường lý tưởng để doanh nghiệp giảm chi phí logistics và tăng sức cạnh tranh".

Cũng theo ông Châu, Việt Nam hiện còn nhiều tiềm năng xuất khẩu sản phẩm nông lâm thủy sản vào thị trường ASEAN, do có các lợi thế lớn như thuận lợi về mặt địa lý giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí vận chuyển hàng hóa, chi phí lưu kho bãi, nhất là trong bối cảnh các chi phí logistics đi các khu vực thị trường Mỹ, châu Âu... ngày càng tăng cao, thì ưu tiên xuất khẩu sang các thị trường gần gũi nhằm tăng sức cạnh tranh cho nông sản là lựa chọn hợp lý của nhiều doanh nghiệp. Đối với khu vực thị trường này, doanh nghiệp cũng có nhiều lựa chọn phương thức vận chuyển hàng hóa như vận tải đường bộ, đường biển và đường hàng không, tạo sự linh hoạt trong giao thương, đưa hàng hóa đến với đối tác nhanh chóng và bảo đảm chất lượng.

Tuy nhiên, ông Châu cũng thừa nhận những yêu cầu khắt khe ngày càng gia tăng từ phía các nước nhập khẩu. Các mặt hàng chủ lực như gạo, rau quả, thủy sản, cà phê, hạt tiêu hay gỗ cần đảm bảo chất lượng cao, có truy xuất nguồn gốc rõ ràng và phải khác biệt giữa sự tương đồng với sản phẩm của các nước trong khu vực. “Đây là lúc doanh nghiệp Việt cần tập trung vào xây dựng thương hiệu, nâng cao năng lực chế biến, và đa dạng hóa sản phẩm nếu muốn trụ vững tại ASEAN”, ông nói.

 ông Tô Việt Châu, Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường
ông Tô Việt Châu - Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường

Về mặt thể chế, ông Châu cho biết, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Công Thương, Bộ Ngoại giao để tuyên truyền cam kết thuế quan, thúc đẩy xúc tiến thương mại và tháo gỡ các rào cản kỹ thuật thông qua đàm phán song phương.

Đặc biệt, ông cho rằng, việc tận dụng các hiệp định khu vực như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) sẽ mở ra cơ hội hợp tác sâu rộng với các đối tác, không chỉ về thương mại mà cả trong đào tạo, công nghệ chế biến và giám sát an toàn thực phẩm. “Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẵn sàng đóng vai trò kết nối để đưa hợp tác nông nghiệp song phương đi vào chiều sâu, hiệu quả và bền vững,” ông khẳng định.

Rào cản phi thuế quan gây khó khăn cho việc xuất khẩu thuỷ sản

Ở góc độ ngành thủy sản, bà Lê Hằng - Phó Tổng Thư ký Hiệp hội VASEP chỉ rõ nhiều rào cản phi thuế quan đang kìm hãm đà tăng trưởng xuất khẩu trong khu vực ASEAN. Các biện pháp như kiểm dịch động thực vật (SPS), rào cản kỹ thuật (TBT), giấy phép nhập khẩu và chứng nhận Halal đều yêu cầu chi phí và thời gian tuân thủ rất cao, đặc biệt đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Bà Hằng chỉ ra, một xét nghiệm dư lượng kháng sinh trong tôm có thể tốn 100-500 USD/mẫu. Việc tuân thủ thường yêu cầu đầu tư vào các cơ sở chế biến, như kho lạnh hoặc hệ thống truy xuất nguồn gốc, có thể tốn từ 10.000-100.000 USD hoặc hơn để nâng cấp đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs).

Ngoài ra, quy định còn tác động đến thời gian. Kiểm tra kiểm dịch tại cảng có thể làm chậm lô hàng từ 1-7 ngày, tùy thuộc vào quốc gia và hiệu quả của cơ quan địa phương. Ví dụ, Bộ Thủy sản Malaysia có thể mất 3-5 ngày để xử lý kiểm tra đối với thủy sản nhập khẩu. Nếu lô hàng không đạt kiểm tra SPS ban đầu, việc xét nghiệm lại hoặc bị từ chối có thể kéo dài thời gian hàng tuần, làm gián đoạn chuỗi cung ứng và dẫn đến hư hỏng thủy sản dễ hỏng.

"Đầu tư truy xuất nguồn gốc, nhãn mác phù hợp ngôn ngữ địa phương hay tuân thủ chứng nhận Halal có thể khiến chi phí ban đầu tăng lên tới hàng chục ngàn USD, chưa kể nguy cơ bị trả hàng nếu không đạt chuẩn”, Bà Hằng dẫn chứng.

bà Lê Hằng, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội VASEP
Bà Lê Hằng - Phó Tổng Thư ký Hiệp hội VASEP

Trong bối cảnh các rào cản phi thuế quan ngày càng gia tăng phức tạp, đại diện VASEP cho rằng, việc cải thiện chính sách nội địa và nâng cao năng lực thương lượng là điều cấp thiết nhằm giảm thiểu rủi ro, đặc biệt trong xuất khẩu thủy sản sang thị trường ASEAN.

Một trong những đề xuất quan trọng là cần hài hòa hóa và chuẩn hóa quy trình tuân thủ các quy định về kiểm dịch động thực vật, rào cản kỹ thuật thương mại và chứng nhận Halal. Bà Hằng chỉ ra các quy trình hiện tại đang yêu cầu hệ thống tài liệu, xét nghiệm và hạ tầng kỹ thuật phức tạp, khiến chi phí tuân thủ tăng cao và kéo dài thời gian xuất khẩu. Trong khi đó, Việt Nam vẫn thiếu các tiêu chuẩn thống nhất phù hợp với yêu cầu từ các quốc gia trong khu vực, dẫn đến việc doanh nghiệp phải chịu chi phí cao hơn để thích nghi riêng lẻ với từng thị trường.

Để khắc phục, VASEP đề xuất cần phát triển các tiêu chuẩn quốc gia đồng bộ và tương thích với các hướng dẫn khu vực như Hệ thống Tài liệu Đánh bắt ASEAN (ACDS) và quy định liên quan đến việc ngăn chặn nhập khẩu sản phẩm từ hoạt động đánh bắt bất hợp pháp (IUU). Việc chuẩn hóa các quy trình như chứng nhận y tế không chỉ giúp rút ngắn thời gian kiểm tra mà còn có thể giảm đáng kể chi phí xét nghiệm – vốn hiện dao động từ 100 đến 500 USD cho mỗi mẫu tôm.

Bên cạnh đó, việc đơn giản hóa quy trình chứng nhận nội địa, đặc biệt trong cấp giấy chứng nhận SPS và Halal cũng là một giải pháp quan trọng nhằm rút ngắn thời gian xử lý từ vài tháng xuống còn khoảng một đến hai tháng, giúp doanh nghiệp cải thiện tốc độ tiếp cận thị trường.

Trong khi đó, chứng nhận Halal đang trở thành một yêu cầu bắt buộc khi xuất khẩu sang các quốc gia có dân số Hồi giáo lớn như Indonesia và Malaysia - hai thị trường chủ lực trong ASEAN. Tuy nhiên, quá trình xin chứng nhận hiện nay gặp nhiều trở ngại vì thời gian kéo dài và chi phí tốn kém, phần lớn do Việt Nam chưa có cơ quan chứng nhận Halal được công nhận rộng rãi trong khu vực.

Trước thực trạng này, đại diện VASEP đề xuất thành lập một cơ quan chứng nhận Halal quốc gia, có thể được công nhận bởi các tổ chức uy tín như JAKIM (Malaysia) và MUI (Indonesia). Việc này sẽ giúp rút ngắn đáng kể thời gian xin chứng nhận, hiện kéo dài từ ba đến sáu tháng xuống chỉ còn một đến hai tháng, đồng thời giảm chi phí đáng kể cho doanh nghiệp.

Song song đó, cần triển khai chương trình đào tạo chuyên sâu và hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn Halal nghiêm ngặt. Hiện chi phí nâng cấp cơ sở vật chất phục vụ sản xuất đạt chuẩn Halal có thể lên tới 100.000 USD – một khoản đầu tư không nhỏ đối với phần lớn doanh nghiệp thủy sản Việt Nam.

Không dừng lại ở cấp độ trong nước, VASEP cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của hợp tác song phương, thông qua đàm phán với các nước trong khu vực để công nhận lẫn nhau chứng nhận Halal. Điều này không chỉ giúp tránh được tình trạng kiểm toán trùng lặp mà còn tạo thuận lợi cho hàng hóa Việt Nam tiếp cận thị trường nhanh hơn, ít rào cản hơn.

Thông qua những đề xuất này, VASEP kỳ vọng có thể tạo ra bước chuyển thực chất trong việc tháo gỡ các rào cản phi thuế quan, từ đó thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu thủy sản nói riêng và nông sản nói chung của Việt Nam vào thị trường ASEAN ngày một vững chắc và hiệu quả hơn.

Doanh nghiệp tiêu dùng nhanh: Khi rào cản không chỉ đến từ chính sách

Ở góc nhìn từ dữ liệu thị trường, ông Nguyễn Anh Dũng - Giám đốc Quốc gia NielsenIQ tại Việt Nam, Philippines và Myanmar - cảnh báo, các doanh nghiệp trong lĩnh vực hàng tiêu dùng nhanh khi thâm nhập ASEAN không chỉ đối mặt với quy định kỹ thuật mà còn phải vượt qua rào cản văn hóa, hành vi và logistics phân phối.

“Cùng là ASEAN nhưng mỗi nước lại có tiêu chuẩn sản phẩm, quy định nhãn mác, thậm chí yêu cầu chứng nhận Halal riêng biệt. Một sản phẩm được chấp nhận ở Thái Lan chưa chắc hợp lệ tại Việt Nam nếu không điều chỉnh thành phần hoặc nhãn phụ”, ông Dũng phân tích.

Ngoài yếu tố pháp lý, doanh nghiệp còn phải giải bài toán hạ tầng phân phối thiếu đồng bộ và hành vi tiêu dùng khác biệt sâu sắc giữa các nước. “Khẩu vị, ngôn ngữ, niềm tin thương hiệu – tất cả đều tác động đến khả năng lan tỏa sản phẩm. Vì vậy, việc sử dụng dữ liệu tiêu dùng bản địa để định vị đúng sản phẩm, đúng thị trường là ‘chìa khóa sống còn’.”

Từ góc độ thị trường tiêu dùng nhanh, NielsenIQ chỉ ra rằng, khi lựa chọn thị trường đầu tư tại Đông Nam Á, doanh nghiệp không chỉ xem xét chi phí mà còn cả chính sách, nhân khẩu học và xu hướng tiêu dùng, đặc biệt là nhu cầu tiêu dùng. Người tiêu dùng hiện nay tìm kiếm "sức mua có định hướng", ưu tiên các sản phẩm có giá trị sử dụng thực sự và sẵn sàng chi trả nhiều hơn cho những sản phẩm giúp tiết kiệm chi phí về lâu dài.

Các thương hiệu thành công là những thương hiệu cung cấp các lựa chọn thay thế với chi phí hợp lý nhưng vẫn giữ được lợi ích cốt lõi, dịch chuyển trải nghiệm tiêu dùng về nhà, và tập trung vào lợi ích dài hạn, tiện lợi và sức khỏe. Điều này cho thấy, đổi mới thành công là đổi mới đúng nhu cầu chưa được đáp ứng của người tiêu dùng.

Tóm lại, để nâng cao vị thế và tăng cường xuất khẩu bền vững sang thị trường ASEAN, Việt Nam cần tiếp tục nỗ lực gỡ bỏ các rào cản phi thuế quan thông qua việc hài hòa hóa các quy định nội địa, tăng cường năng lực đàm phán quốc tế và hợp tác chặt chẽ với các đối tác. Đồng thời, về phía doanh nghiệp, cần nắm bắt và thích nghi với xu hướng tiêu dùng mới để đưa ra sản phẩm phù hợp, đảm bảo sức cạnh tranh trong chuỗi cung ứng khu vực.

Tin bài khác
Tường thuật trực tuyến Lễ kỷ niệm 20 năm thành lập VINASME và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất

Tường thuật trực tuyến Lễ kỷ niệm 20 năm thành lập VINASME và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất

Sáng ngày 25/8/2026, tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế, Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME) tổ chức Lễ kỷ niệm 20 năm thành lập và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất.
Hành lang kinh tế Việt - Trung: Bước chuyển từ kết nối quan hệ sang kết nối phát triển

Hành lang kinh tế Việt - Trung: Bước chuyển từ kết nối quan hệ sang kết nối phát triển

Giá trị mới của hành lang kinh tế Việt - Trung không chỉ nằm ở lưu lượng hàng hóa qua biên giới, mà ở khả năng kết nối cửa khẩu, trung tâm sản xuất, thị trường và cảng biển thành một không gian phát triển thống nhất.
Quảng Ninh đặt mục tiêu 1.500 hợp tác xã vào năm 2030

Quảng Ninh đặt mục tiêu 1.500 hợp tác xã vào năm 2030

Chương trình phát triển kinh tế tập thể giai đoạn 2026-2030 của Quảng Ninh đặt mục tiêu xây dựng khu vực hợp tác xã năng động, hiện đại, gắn với chuyển đổi số, kinh tế xanh và liên kết chuỗi giá trị; phấn đấu toàn tỉnh có 1.500 hợp tác xã và hơn 63.000 thành viên vào năm 2030.
Hải Phòng sắp có phố đi bộ, kinh tế đêm bên Nhà hát thành phố

Hải Phòng sắp có phố đi bộ, kinh tế đêm bên Nhà hát thành phố

Từ tối 28/8, khu vực Dải vườn hoa Trung tâm và Nhà hát thành phố Hải Phòng sẽ khoác lên diện mạo mới với phố đi bộ, không gian ẩm thực, nghệ thuật và trải nghiệm về đêm.
20 năm Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa, kỳ vọng một điểm tựa mạnh hơn

20 năm Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa, kỳ vọng một điểm tựa mạnh hơn

Từ dấu mốc 20 năm của Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME), doanh nghiệp kỳ vọng một chặng đường mới với chính sách thực chất hơn, liên kết mạnh hơn và thêm nguồn lực để đổi mới, mở rộng thị trường.
VINASME đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất, mở chặng đường mới cùng doanh nghiệp

VINASME đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất, mở chặng đường mới cùng doanh nghiệp

Ngày 25/8/2026, Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME) sẽ chính thức đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất tại thủ đô Hà Nội.
Phú Thọ dành hơn 137.000 tỷ đồng cho đầu tư công giai đoạn 2026-2030

Phú Thọ dành hơn 137.000 tỷ đồng cho đầu tư công giai đoạn 2026-2030

HĐND tỉnh Phú Thọ thông qua kế hoạch đầu tư công trung hạn 2026-2030 với tổng nguồn vốn hơn 137.035 tỷ đồng, ưu tiên xử lý nợ đọng và các dự án chuyển tiếp.
Đại biểu Quốc hội đề xuất “bộ lọc” nhận diện thao túng giá bất động sản

Đại biểu Quốc hội đề xuất “bộ lọc” nhận diện thao túng giá bất động sản

Cho rằng đầu cơ và thao túng giá bất động sản là hai vấn đề cần được phân định rõ, đại biểu Trịnh Xuân An (Đoàn Đồng Nai) đề nghị bổ sung quy định định danh hành vi thao túng thị trường bất động sản, đồng thời xây dựng cơ chế giám sát, cảnh báo sớm để kịp thời phát hiện những biến động bất thường về giá, cung - cầu.
Quốc hội bàn định hướng sửa Luật Kinh doanh bất động sản

Quốc hội bàn định hướng sửa Luật Kinh doanh bất động sản

Hôm nay (22/8), Quốc hội khóa XVI dành phiên làm việc tại Hội trường để thảo luận về định hướng chính sách sửa đổi Luật Kinh doanh bất động sản, cùng cơ chế, chính sách đối với các dự án xây dựng khu đô thị lấn biển.
ĐBQH đề nghị kéo giá nhà ở xã hội về gần khả năng chi trả

ĐBQH đề nghị kéo giá nhà ở xã hội về gần khả năng chi trả

Giá nhà ở xã hội vẫn là bài toán lớn đối với người thu nhập thấp khi mức giá tại một số dự án đã vượt xa khả năng tích lũy của người lao động. Tại phiên thảo luận về dự án Luật Nhà ở (sửa đổi) chiều 21/8, các đại biểu Quốc hội đề nghị lấy khả năng chi trả của người dân làm một tiêu chí quan trọng khi xác định giá bán, giá thuê; đồng thời siết quy trình xét duyệt để chính sách đến đúng đối tượng.
Đến giữa tháng 8/2026, thu ngân sách nhà nước đạt 76,2% dự toán

Đến giữa tháng 8/2026, thu ngân sách nhà nước đạt 76,2% dự toán

Lũy kế đến ngày 15/8/2026, tổng thu ngân sách nhà nước đạt 1.928.426 tỷ đồng, tương đương 76,2% dự toán năm. Trong khi đó, tổng chi đạt 1.497.736 tỷ đồng, bằng 47,4% dự toán, bảo đảm nguồn lực cho các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và an sinh xã hội.
Đề xuất giảm 30% thuế thu nhập cho hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ

Đề xuất giảm 30% thuế thu nhập cho hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ

Chính phủ đề xuất giảm 30% số thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong các kỳ tính thuế năm 2026 và 2027 đối với cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp có doanh thu hằng năm không quá 10 tỷ đồng. Chính sách được kỳ vọng tạo thêm dư địa tài chính để duy trì sản xuất, tái đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng.
Bộ Xây dựng chuẩn hóa quy trình công nhận đô thị loại I trong 40 ngày làm việc

Bộ Xây dựng chuẩn hóa quy trình công nhận đô thị loại I trong 40 ngày làm việc

Bộ Xây dựng đã ban hành Quyết định số 1447/QĐ-BXD ngày 18/8/2026 về việc công bố thủ tục hành chính nội bộ trong lĩnh vực phát triển đô thị. Trong đó, quy trình xem xét, công nhận tỉnh đạt tiêu chí đô thị loại I được quy định với thời gian giải quyết tối đa 40 ngày làm việc.
Quốc hội bàn chính sách mới cho đất đai và nhà ở

Quốc hội bàn chính sách mới cho đất đai và nhà ở

Định hướng sửa Luật Đất đai năm 2024 và Luật Nhà ở năm 2023 đang được Quốc hội xem xét với nhiều nội dung có tác động trực tiếp đến thị trường bất động sản, doanh nghiệp và người dân. Đáng chú ý là cách tiếp cận mới về bồi thường, giá đất, giao đất, phát triển nhà ở cho thuê và xử lý chung cư theo thời hạn sử dụng công trình.
Đại biểu Nguyễn Thị Kim Anh: Hợp nhất mục tiêu quốc gia phải lấy dân làm thước đo

Đại biểu Nguyễn Thị Kim Anh: Hợp nhất mục tiêu quốc gia phải lấy dân làm thước đo

Ngày 20/8, thảo luận tại hội trường Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, đại biểu Nguyễn Thị Kim Anh, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Ninh, bày tỏ đồng tình với chủ trương hợp nhất 4 Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2035. Đại biểu đồng thời đề nghị quá trình tổ chức thực hiện phải bảo đảm tính liên tục của chính sách, tăng thực chất phân cấp và lấy kết quả, lợi ích của người dân làm thước đo cuối cùng.