Thứ bảy 11/04/2026 14:55
Hotline: 024.355.63.010
Thời cuộc

Doanh nghiệp Việt cần làm gì để ứng phó hiệu quả với các rào cản phi thuế quan ?

Dù hầu hết hàng hóa xuất khẩu sang thị trường ASEAN đều được hưởng ưu đãi với mức thuế quan 0%, nhiều doanh nghiệp Việt vẫn gặp khó khi xuất khẩu nông sản, thủy sản và hàng tiêu dùng do vướng rào cản phi thuế quan.
Doanh nghiệp Việt cần làm gì để ứng phó hiệu quả với các rào cản phi thuế quan ?
Phiên thảo luận tại Hội thảo “Gỡ rào cản phi thuế quan vì thịnh vượng chung ASEAN”.

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực ngày càng sâu rộng, các rào cản phi thuế quan (NTBs) đang nổi lên như một thách thức đáng kể đối với doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực nông sản, thủy sản và hàng tiêu dùng nhanh (FMCG).

Thị trường ASEAN: Cơ hội nhưng không ít thách thức

Chia sẻ tại Hội thảo “Gỡ rào cản phi thuế quan vì thịnh vượng chung ASEAN” tổ chức mới đây, ông Tô Việt Châu - Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường - nhấn mạnh: “ASEAN là thị trường giàu tiềm năng cho xuất khẩu nông lâm thủy sản Việt Nam. Với mức thuế quan ưu đãi 0% theo Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA), cùng với vị trí địa lý thuận lợi, đây là thị trường lý tưởng để doanh nghiệp giảm chi phí logistics và tăng sức cạnh tranh".

Cũng theo ông Châu, Việt Nam hiện còn nhiều tiềm năng xuất khẩu sản phẩm nông lâm thủy sản vào thị trường ASEAN, do có các lợi thế lớn như thuận lợi về mặt địa lý giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí vận chuyển hàng hóa, chi phí lưu kho bãi, nhất là trong bối cảnh các chi phí logistics đi các khu vực thị trường Mỹ, châu Âu... ngày càng tăng cao, thì ưu tiên xuất khẩu sang các thị trường gần gũi nhằm tăng sức cạnh tranh cho nông sản là lựa chọn hợp lý của nhiều doanh nghiệp. Đối với khu vực thị trường này, doanh nghiệp cũng có nhiều lựa chọn phương thức vận chuyển hàng hóa như vận tải đường bộ, đường biển và đường hàng không, tạo sự linh hoạt trong giao thương, đưa hàng hóa đến với đối tác nhanh chóng và bảo đảm chất lượng.

Tuy nhiên, ông Châu cũng thừa nhận những yêu cầu khắt khe ngày càng gia tăng từ phía các nước nhập khẩu. Các mặt hàng chủ lực như gạo, rau quả, thủy sản, cà phê, hạt tiêu hay gỗ cần đảm bảo chất lượng cao, có truy xuất nguồn gốc rõ ràng và phải khác biệt giữa sự tương đồng với sản phẩm của các nước trong khu vực. “Đây là lúc doanh nghiệp Việt cần tập trung vào xây dựng thương hiệu, nâng cao năng lực chế biến, và đa dạng hóa sản phẩm nếu muốn trụ vững tại ASEAN”, ông nói.

 ông Tô Việt Châu, Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường
ông Tô Việt Châu - Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường

Về mặt thể chế, ông Châu cho biết, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Công Thương, Bộ Ngoại giao để tuyên truyền cam kết thuế quan, thúc đẩy xúc tiến thương mại và tháo gỡ các rào cản kỹ thuật thông qua đàm phán song phương.

Đặc biệt, ông cho rằng, việc tận dụng các hiệp định khu vực như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) sẽ mở ra cơ hội hợp tác sâu rộng với các đối tác, không chỉ về thương mại mà cả trong đào tạo, công nghệ chế biến và giám sát an toàn thực phẩm. “Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẵn sàng đóng vai trò kết nối để đưa hợp tác nông nghiệp song phương đi vào chiều sâu, hiệu quả và bền vững,” ông khẳng định.

Rào cản phi thuế quan gây khó khăn cho việc xuất khẩu thuỷ sản

Ở góc độ ngành thủy sản, bà Lê Hằng - Phó Tổng Thư ký Hiệp hội VASEP chỉ rõ nhiều rào cản phi thuế quan đang kìm hãm đà tăng trưởng xuất khẩu trong khu vực ASEAN. Các biện pháp như kiểm dịch động thực vật (SPS), rào cản kỹ thuật (TBT), giấy phép nhập khẩu và chứng nhận Halal đều yêu cầu chi phí và thời gian tuân thủ rất cao, đặc biệt đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Bà Hằng chỉ ra, một xét nghiệm dư lượng kháng sinh trong tôm có thể tốn 100-500 USD/mẫu. Việc tuân thủ thường yêu cầu đầu tư vào các cơ sở chế biến, như kho lạnh hoặc hệ thống truy xuất nguồn gốc, có thể tốn từ 10.000-100.000 USD hoặc hơn để nâng cấp đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs).

Ngoài ra, quy định còn tác động đến thời gian. Kiểm tra kiểm dịch tại cảng có thể làm chậm lô hàng từ 1-7 ngày, tùy thuộc vào quốc gia và hiệu quả của cơ quan địa phương. Ví dụ, Bộ Thủy sản Malaysia có thể mất 3-5 ngày để xử lý kiểm tra đối với thủy sản nhập khẩu. Nếu lô hàng không đạt kiểm tra SPS ban đầu, việc xét nghiệm lại hoặc bị từ chối có thể kéo dài thời gian hàng tuần, làm gián đoạn chuỗi cung ứng và dẫn đến hư hỏng thủy sản dễ hỏng.

"Đầu tư truy xuất nguồn gốc, nhãn mác phù hợp ngôn ngữ địa phương hay tuân thủ chứng nhận Halal có thể khiến chi phí ban đầu tăng lên tới hàng chục ngàn USD, chưa kể nguy cơ bị trả hàng nếu không đạt chuẩn”, Bà Hằng dẫn chứng.

bà Lê Hằng, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội VASEP
Bà Lê Hằng - Phó Tổng Thư ký Hiệp hội VASEP

Trong bối cảnh các rào cản phi thuế quan ngày càng gia tăng phức tạp, đại diện VASEP cho rằng, việc cải thiện chính sách nội địa và nâng cao năng lực thương lượng là điều cấp thiết nhằm giảm thiểu rủi ro, đặc biệt trong xuất khẩu thủy sản sang thị trường ASEAN.

Một trong những đề xuất quan trọng là cần hài hòa hóa và chuẩn hóa quy trình tuân thủ các quy định về kiểm dịch động thực vật, rào cản kỹ thuật thương mại và chứng nhận Halal. Bà Hằng chỉ ra các quy trình hiện tại đang yêu cầu hệ thống tài liệu, xét nghiệm và hạ tầng kỹ thuật phức tạp, khiến chi phí tuân thủ tăng cao và kéo dài thời gian xuất khẩu. Trong khi đó, Việt Nam vẫn thiếu các tiêu chuẩn thống nhất phù hợp với yêu cầu từ các quốc gia trong khu vực, dẫn đến việc doanh nghiệp phải chịu chi phí cao hơn để thích nghi riêng lẻ với từng thị trường.

Để khắc phục, VASEP đề xuất cần phát triển các tiêu chuẩn quốc gia đồng bộ và tương thích với các hướng dẫn khu vực như Hệ thống Tài liệu Đánh bắt ASEAN (ACDS) và quy định liên quan đến việc ngăn chặn nhập khẩu sản phẩm từ hoạt động đánh bắt bất hợp pháp (IUU). Việc chuẩn hóa các quy trình như chứng nhận y tế không chỉ giúp rút ngắn thời gian kiểm tra mà còn có thể giảm đáng kể chi phí xét nghiệm – vốn hiện dao động từ 100 đến 500 USD cho mỗi mẫu tôm.

Bên cạnh đó, việc đơn giản hóa quy trình chứng nhận nội địa, đặc biệt trong cấp giấy chứng nhận SPS và Halal cũng là một giải pháp quan trọng nhằm rút ngắn thời gian xử lý từ vài tháng xuống còn khoảng một đến hai tháng, giúp doanh nghiệp cải thiện tốc độ tiếp cận thị trường.

Trong khi đó, chứng nhận Halal đang trở thành một yêu cầu bắt buộc khi xuất khẩu sang các quốc gia có dân số Hồi giáo lớn như Indonesia và Malaysia - hai thị trường chủ lực trong ASEAN. Tuy nhiên, quá trình xin chứng nhận hiện nay gặp nhiều trở ngại vì thời gian kéo dài và chi phí tốn kém, phần lớn do Việt Nam chưa có cơ quan chứng nhận Halal được công nhận rộng rãi trong khu vực.

Trước thực trạng này, đại diện VASEP đề xuất thành lập một cơ quan chứng nhận Halal quốc gia, có thể được công nhận bởi các tổ chức uy tín như JAKIM (Malaysia) và MUI (Indonesia). Việc này sẽ giúp rút ngắn đáng kể thời gian xin chứng nhận, hiện kéo dài từ ba đến sáu tháng xuống chỉ còn một đến hai tháng, đồng thời giảm chi phí đáng kể cho doanh nghiệp.

Song song đó, cần triển khai chương trình đào tạo chuyên sâu và hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn Halal nghiêm ngặt. Hiện chi phí nâng cấp cơ sở vật chất phục vụ sản xuất đạt chuẩn Halal có thể lên tới 100.000 USD – một khoản đầu tư không nhỏ đối với phần lớn doanh nghiệp thủy sản Việt Nam.

Không dừng lại ở cấp độ trong nước, VASEP cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của hợp tác song phương, thông qua đàm phán với các nước trong khu vực để công nhận lẫn nhau chứng nhận Halal. Điều này không chỉ giúp tránh được tình trạng kiểm toán trùng lặp mà còn tạo thuận lợi cho hàng hóa Việt Nam tiếp cận thị trường nhanh hơn, ít rào cản hơn.

Thông qua những đề xuất này, VASEP kỳ vọng có thể tạo ra bước chuyển thực chất trong việc tháo gỡ các rào cản phi thuế quan, từ đó thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu thủy sản nói riêng và nông sản nói chung của Việt Nam vào thị trường ASEAN ngày một vững chắc và hiệu quả hơn.

Doanh nghiệp tiêu dùng nhanh: Khi rào cản không chỉ đến từ chính sách

Ở góc nhìn từ dữ liệu thị trường, ông Nguyễn Anh Dũng - Giám đốc Quốc gia NielsenIQ tại Việt Nam, Philippines và Myanmar - cảnh báo, các doanh nghiệp trong lĩnh vực hàng tiêu dùng nhanh khi thâm nhập ASEAN không chỉ đối mặt với quy định kỹ thuật mà còn phải vượt qua rào cản văn hóa, hành vi và logistics phân phối.

“Cùng là ASEAN nhưng mỗi nước lại có tiêu chuẩn sản phẩm, quy định nhãn mác, thậm chí yêu cầu chứng nhận Halal riêng biệt. Một sản phẩm được chấp nhận ở Thái Lan chưa chắc hợp lệ tại Việt Nam nếu không điều chỉnh thành phần hoặc nhãn phụ”, ông Dũng phân tích.

Ngoài yếu tố pháp lý, doanh nghiệp còn phải giải bài toán hạ tầng phân phối thiếu đồng bộ và hành vi tiêu dùng khác biệt sâu sắc giữa các nước. “Khẩu vị, ngôn ngữ, niềm tin thương hiệu – tất cả đều tác động đến khả năng lan tỏa sản phẩm. Vì vậy, việc sử dụng dữ liệu tiêu dùng bản địa để định vị đúng sản phẩm, đúng thị trường là ‘chìa khóa sống còn’.”

Từ góc độ thị trường tiêu dùng nhanh, NielsenIQ chỉ ra rằng, khi lựa chọn thị trường đầu tư tại Đông Nam Á, doanh nghiệp không chỉ xem xét chi phí mà còn cả chính sách, nhân khẩu học và xu hướng tiêu dùng, đặc biệt là nhu cầu tiêu dùng. Người tiêu dùng hiện nay tìm kiếm "sức mua có định hướng", ưu tiên các sản phẩm có giá trị sử dụng thực sự và sẵn sàng chi trả nhiều hơn cho những sản phẩm giúp tiết kiệm chi phí về lâu dài.

Các thương hiệu thành công là những thương hiệu cung cấp các lựa chọn thay thế với chi phí hợp lý nhưng vẫn giữ được lợi ích cốt lõi, dịch chuyển trải nghiệm tiêu dùng về nhà, và tập trung vào lợi ích dài hạn, tiện lợi và sức khỏe. Điều này cho thấy, đổi mới thành công là đổi mới đúng nhu cầu chưa được đáp ứng của người tiêu dùng.

Tóm lại, để nâng cao vị thế và tăng cường xuất khẩu bền vững sang thị trường ASEAN, Việt Nam cần tiếp tục nỗ lực gỡ bỏ các rào cản phi thuế quan thông qua việc hài hòa hóa các quy định nội địa, tăng cường năng lực đàm phán quốc tế và hợp tác chặt chẽ với các đối tác. Đồng thời, về phía doanh nghiệp, cần nắm bắt và thích nghi với xu hướng tiêu dùng mới để đưa ra sản phẩm phù hợp, đảm bảo sức cạnh tranh trong chuỗi cung ứng khu vực.

Tin bài khác
Thúc đẩy tăng trưởng hai con số: Cần tập đoàn tư nhân “đầu tàu” đủ tầm dẫn dắt

Thúc đẩy tăng trưởng hai con số: Cần tập đoàn tư nhân “đầu tàu” đủ tầm dẫn dắt

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh yêu cầu phát triển thêm các tập đoàn tư nhân quy mô lớn, coi đây là động lực quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Đề xuất tách bạch kho dự trữ xăng dầu: Tăng “sức đề kháng” cho an ninh năng lượng quốc gia

Đề xuất tách bạch kho dự trữ xăng dầu: Tăng “sức đề kháng” cho an ninh năng lượng quốc gia

Trong bối cảnh biến động thị trường ngày càng khó lường, nhiều đại biểu Quốc hội kiến nghị sớm hình thành hệ thống kho dự trữ xăng dầu quốc gia độc lập, đi kèm cơ chế đặc thù và hoàn thiện hành lang pháp lý để chủ động ứng phó rủi ro.
Tối ưu mở rộng cao tốc Bắc Nam dựa nhu cầu vận tải và hiệu quả đầu tư

Tối ưu mở rộng cao tốc Bắc Nam dựa nhu cầu vận tải và hiệu quả đầu tư

Bộ Xây dựng yêu cầu tính toán lại nhu cầu vận tải, hoàn thiện kịch bản đầu tư nhằm lựa chọn phương án mở rộng cao tốc Bắc - Nam hiệu quả, đảm bảo đồng bộ hạ tầng và tối ưu nguồn lực tài chính.
Bộ Xây dựng đẩy mạnh phân cấp đầu tư cao tốc, tháo gỡ điểm nghẽn hạ tầng giao thông quốc gia

Bộ Xây dựng đẩy mạnh phân cấp đầu tư cao tốc, tháo gỡ điểm nghẽn hạ tầng giao thông quốc gia

Bộ Xây dựng thúc đẩy phân cấp mạnh cho địa phương triển khai cao tốc, đồng thời tháo gỡ vướng mắc về vốn, đất đai và thủ tục, nhằm tăng tốc phát triển hạ tầng và đảm bảo mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
Bộ Công Thương lên tiếng về điều tra thương mại của Mỹ với Việt Nam

Bộ Công Thương lên tiếng về điều tra thương mại của Mỹ với Việt Nam

Mỹ mở thêm các cuộc điều tra thương mại với nhiều nền kinh tế, trong đó có Việt Nam, nhưng điều đáng chú ý là phản ứng của cơ quan quản lý trong nước khá rõ ràng: không né tránh, không đẩy căng thẳng lên cao, mà chọn cách trao đổi, làm rõ và bảo vệ lợi ích doanh nghiệp bằng lập luận chính sách. Đây là điểm cần theo dõi sát trong bối cảnh xuất khẩu sang Mỹ vẫn là trục quan trọng của nhiều ngành hàng Việt Nam.
Đại biểu Nguyễn Văn Thân muốn gỡ phiền hà để người dân yên tâm làm ăn

Đại biểu Nguyễn Văn Thân muốn gỡ phiền hà để người dân yên tâm làm ăn

Đại biểu Nguyễn Văn Thân - Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam - tiếp tục dành nhiều tâm huyết cho câu chuyện thuế hộ kinh doanh. Điều ông nhấn mạnh không phải là tăng thu bằng mọi giá, mà là thiết kế chính sách sao cho công bằng, dễ thực hiện, giảm phiền hà cho người dân và tạo đường đi tự nhiên từ hộ kinh doanh lên doanh nghiệp.
Đại biểu Nguyễn Văn Thân: “Chỉ vướng một chút mà nằm im là lãng phí vô cùng lớn"

Đại biểu Nguyễn Văn Thân: “Chỉ vướng một chút mà nằm im là lãng phí vô cùng lớn"

Phát biểu thảo luận tại Quốc hội chiều ngày 9/4, đại biểu Nguyễn Văn Thân - Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam cho biết ông ấn tượng với hai mục tiêu Thủ tướng Lê Minh Hưng nêu ra là phấn đấu tiếp tục cắt giảm tối thiểu 30% các ngành nghề kinh doanh có điều kiện và giảm tối thiểu 30% số dự án đầu tư sử dụng ngân sách trung ương và địa phương so với giai đoạn trước.
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng: Không để mất ổn định vĩ mô, khủng hoảng kinh tế trong mọi tình huống

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng: Không để mất ổn định vĩ mô, khủng hoảng kinh tế trong mọi tình huống

Trước Quốc hội chiều 9/4, Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh mục tiêu giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, không để xảy ra khủng hoảng trong bất kỳ kịch bản nào, đồng thời yêu cầu chuẩn bị sẵn các phương án dự phòng để ứng phó biến động từ bên ngoài.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất trình phương án thuế 0 đồng với xăng dầu

Ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất trình phương án thuế 0 đồng với xăng dầu

Ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất trình Quốc hội xem xét đưa thuế bảo vệ môi trường với nhiều mặt hàng xăng dầu về 0 đồng/lít và thuế tiêu thụ đặc biệt với xăng về 0% từ 16/4 đến 30/6/2026, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và ổn định kinh tế vĩ mô.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng: Chất lượng nông sản phải đi trước để mở đường xuất khẩu bền vững

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng: Chất lượng nông sản phải đi trước để mở đường xuất khẩu bền vững

Thứ trưởng Võ Văn Hưng nhấn mạnh đổi mới tư duy quản lý, lấy chất lượng làm nền tảng, nâng cao chế biến và chủ động thị trường để thúc đẩy xuất khẩu nông sản.
Thủ tướng Lê Minh Hưng chủ trì họp thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững

Thủ tướng Lê Minh Hưng chủ trì họp thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững

Thủ tướng Lê Minh Hưng chủ trì họp Thường trực Chính phủ, tập trung xây dựng chương trình hành động, tháo gỡ dự án tồn đọng và hoàn thiện bộ máy điều hành hiệu quả.
Giá vé máy bay tăng mạnh do áp lực nhiên liệu và tỷ giá toàn cầu

Giá vé máy bay tăng mạnh do áp lực nhiên liệu và tỷ giá toàn cầu

Giá vé máy bay tăng nhanh do chi phí nhiên liệu và tỷ giá leo thang, khiến các hãng hàng không đối mặt áp lực lớn, buộc điều chỉnh giá và tối ưu khai thác trong bối cảnh biến động toàn cầu.
Chính phủ phê duyệt chương trình 1.000 doanh nghiệp tiên phong: Tạo “lực đẩy” mới cho khu vực kinh tế tư nhân

Chính phủ phê duyệt chương trình 1.000 doanh nghiệp tiên phong: Tạo “lực đẩy” mới cho khu vực kinh tế tư nhân

Với mục tiêu hình thành đội ngũ doanh nghiệp dẫn dắt, có năng lực cạnh tranh khu vực và toàn cầu, Chính phủ vừa phê duyệt Chương trình phát triển 1.000 doanh nghiệp tiên phong giai đoạn 2026–2030, đặt trọng tâm vào đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh và nâng cao năng suất.
Việt Nam mở văn phòng xúc tiến thương mại tại Hải Khẩu: Đón nhịp mới từ Cảng tự do Hải Nam

Việt Nam mở văn phòng xúc tiến thương mại tại Hải Khẩu: Đón nhịp mới từ Cảng tự do Hải Nam

Việc khai trương Văn phòng Xúc tiến thương mại Việt Nam tại Hải Khẩu không chỉ là thêm một địa chỉ hiện diện ở Trung Quốc. Đây là bước đi cho thấy Việt Nam đang chủ động đặt điểm tựa thương mại ngay tại một địa bàn được xem là cửa ngõ mới của dòng hàng hóa, đầu tư và dịch vụ quốc tế, khi Hải Nam đã vận hành Cảng Thương mại tự do từ ngày 18/12/2025 với nhiều cơ chế đột phá.
Điều kiện then chốt nào để Hà Nội giảm áp lực nội đô?

Điều kiện then chốt nào để Hà Nội giảm áp lực nội đô?

Khi các đô thị vệ tinh được quy hoạch đồng bộ, có đầy đủ hạ tầng xã hội và kết nối giao thông thuận lợi, người dân sẽ sẵn sàng rời khu phố cổ chật hẹp để chuyển ra sinh sống. Đây được xem là một trong những điều kiện then chốt để Hà Nội giảm áp lực nội đô, tái cấu trúc không gian phát triển và xây dựng mô hình quản trị đô thị hiện đại.