Thứ tư 04/11/2026 05:19
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Góc nhìn Chuyên gia

TS. Cấn Văn Lực: Cần cách mạng hiệu quả đầu tư công để đổi mới mô hình tăng trưởng

16/12/2025 10:03
TS. Cấn Văn Lực cho rằng Việt Nam muốn đạt tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026–2030 buộc phải cải cách mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, lấy hiệu quả đầu tư công, năng suất và TFP làm trụ cột then chốt.
TS. Cấn Văn Lực: Cần nhìn nhận lại mức độ “vàng hoá” nền kinh tế TS. Cấn Văn Lực: Đầu tư công phải dẫn dắt, cơ cấu lại mạnh mẽ giai đoạn tăng tốc mới
Việt Nam bước vào ngưỡng phát triển mới với khát vọng tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026–2030. Tuy nhiên, hiệu quả đầu tư công, hệ số ICOR (Incremental Capital Output Ratio là chỉ số được sử dụng để đánh giá hiệu quả của việc đầu tư vốn trong nền kinh tế) và đóng góp TFP(Total Factor Productivity - Năng suất nhân tố tổng hợp) còn hạn chế đang đặt ra yêu cầu đổi mới căn bản mô hình tăng trưởng. Trước bối cảnh đó, Tạp chí doanh nghiệp và Hội nhập đã có cuộc phỏng vấn TS. Cấn Văn Lực, chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tài chính-Tiền tệ Quốc gia để làm rõ tái cơ cấu kinh tế, nâng hiệu quả đầu tư công, thúc đẩy tăng trưởng bền vững dựa trên năng suất và thể chế mới

Phóng viên: Thưa ông, trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động nhanh và Việt Nam đứng trước yêu cầu bứt phá mạnh mẽ, câu chuyện tái cơ cấu nền kinh tế được nhắc đến ngày càng nhiều. Theo ông, Việt Nam cần lựa chọn cách tiếp cận nào để tái cơ cấu thực sự đi vào thực chất, tránh hình thức?

TS. Cấn Văn Lực: Tái cơ cấu nền kinh tế là một bài toán chiến lược dài hạn và không có lời giải đơn giản. Về lý thuyết, chúng ta thường nói đến hai cách tiếp cận. Một là tái cơ cấu theo hướng tiệm tiến, tức là điều chỉnh từng bước, bảo đảm ổn định vĩ mô và hạn chế cú sốc. Hai là tái cơ cấu mang tính căn bản, chấp nhận thay đổi mạnh về cấu trúc và mô hình tăng trưởng, dù đi kèm rủi ro cao hơn.

Với Việt Nam hiện nay, tôi cho rằng không thể chọn một trong hai, mà phải kết hợp cả hai cách tiếp cận. Chúng ta cần những điều chỉnh mang tính “cách mạng” ở những khâu then chốt, đặc biệt là mô hình tăng trưởng và phân bổ nguồn lực, nhưng đồng thời phải triển khai theo lộ trình có kiểm soát. Không thể duy trì mãi mô hình tăng trưởng dựa vào chiều rộng, vào vốn và lao động giá rẻ, nhưng cũng không thể “bẻ gãy” hoàn toàn cấu trúc cũ khi nền tảng mới chưa đủ vững.

Cốt lõi của tái cơ cấu là câu hỏi: nguồn lực quốc gia đang được sử dụng ra sao và có tạo ra giá trị tương xứng hay không. Khi trả lời được câu hỏi đó, tái cơ cấu mới thực sự đi vào thực chất.

TS. Cấn Văn Lực: Cần cách mạng hiệu quả đầu tư công để đổi mới mô hình tăng trưởng
TS. Cấn Văn Lực, chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tài chính-Tiền tệ Quốc gia (Ảnh: Phan Chính).

Phóng viên: Đầu tư công được ông nhiều lần nhấn mạnh là trọng tâm của tái cơ cấu. Tuy nhiên, hiện nay có ý kiến cho rằng đầu tư công đang thiên lệch về hạ tầng “cứng”, trong khi hạ tầng “mềm” chưa được quan tâm đúng mức. Ông đánh giá như thế nào về thực trạng này?

TS. Cấn Văn Lực: Thực tế cho thấy Việt Nam đang duy trì tỷ lệ đầu tư công khá cao, khoảng 6–7% GDP trong nhiều năm liên tiếp, thuộc nhóm cao nhất châu Á. Điều này thể hiện quyết tâm rất lớn của Chính phủ trong việc tạo nền tảng hạ tầng cho phát triển.

Tuy nhiên, vấn đề nằm ở cơ cấu. Hiện khoảng 80% vốn đầu tư công tập trung vào hạ tầng cứng như đường sá, cầu cống, sân bay, trong khi chỉ khoảng 20% dành cho các lĩnh vực như khoa học công nghệ, giáo dục, y tế, đổi mới sáng tạo và an sinh xã hội. Sự mất cân đối này nếu kéo dài sẽ làm suy giảm chất lượng tăng trưởng.

Trong bối cảnh mới, khái niệm hạ tầng phải được hiểu rộng hơn. Hạ tầng mềm – bao gồm thể chế, dữ liệu, nguồn nhân lực, khoa học công nghệ – mới là yếu tố quyết định năng suất và sức cạnh tranh dài hạn. Nếu chỉ có đường đẹp mà thiếu nhân lực chất lượng cao, thiếu công nghệ và quản trị hiện đại, thì hiệu quả lan tỏa sẽ rất hạn chế.

Ngoài ra, đầu tư công cũng cần gắn chặt với mục tiêu chuyển đổi xanh và thích ứng biến đổi khí hậu. Hạ tầng xây dựng hôm nay phải có khả năng chống chịu trong 20–30 năm tới, nếu không sẽ trở thành gánh nặng cho ngân sách.

Phóng viên: Một “điểm nghẽn” dai dẳng của đầu tư công là hiệu quả thấp, giải ngân chậm và tình trạng đội vốn. Theo ông, đâu là nguyên nhân cốt lõi và Việt Nam cần thay đổi cách đánh giá hiệu quả đầu tư công như thế nào?

TS. Cấn Văn Lực: Hiệu quả đầu tư công thấp thể hiện rõ qua hệ số ICOR của Việt Nam hiện khoảng 5 lần, trong khi mục tiêu hợp lý phải là khoảng 4 lần. Điều này cho thấy chúng ta cần nhiều vốn hơn để tạo ra cùng một đơn vị tăng trưởng so với mong muốn.

Nguyên nhân có nhiều, từ chuẩn bị dự án, giải phóng mặt bằng đến năng lực quản lý và thi công. Nhưng theo tôi, vấn đề lớn nhất nằm ở khâu đánh giá và giám sát. Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư công hiện nay vừa lạc hậu, vừa không được áp dụng nghiêm túc.

Chúng ta cần một bộ tiêu chí mới, toàn diện hơn, bao gồm hiệu quả kinh tế vĩ mô, tác động lan tỏa vùng – ngành, yếu tố xã hội và môi trường, cũng như chất lượng công trình và công nghệ sử dụng. Đặc biệt, việc đánh giá phải dựa trên dữ liệu số, theo thời gian thực, thay vì các báo cáo thủ công mang tính hình thức.

Chỉ khi đo lường được hiệu quả một cách minh bạch, chúng ta mới có thể chấm dứt tình trạng “tiêu được tiền là xong”, thay vào đó là tư duy “mỗi đồng vốn phải tạo ra giá trị cao nhất”.

TS. Cấn Văn Lực: Cần cách mạng hiệu quả đầu tư công để đổi mới mô hình tăng trưởng
Hiệu quả từ đầu tư công là yếu tố giúp tăng trưởng hai con số. (Ảnh: Minh hoạ)

Phóng viên: Việt Nam đang hướng tới mục tiêu tăng trưởng khoảng 10% giai đoạn 2026–2030. Theo ông, cơ cấu các động lực tăng trưởng cần thay đổi ra sao để hiện thực hóa mục tiêu này?

TS. Cấn Văn Lực: Muốn tăng trưởng hai con số, Việt Nam không thể đi theo lối mòn. Nếu phân tích các động lực tăng trưởng, chúng ta có ba yếu tố chính: vốn, lao động và TFP.

Trong giai đoạn tới, vốn vẫn sẽ đóng góp khoảng 45–47% tăng trưởng. Lao động chỉ còn đóng góp khoảng 5–6% do dân số già hóa và dư địa thâm dụng lao động không còn nhiều. Phần còn lại, trên 50%, buộc phải đến từ TFP.

TFP phản ánh chất lượng tăng trưởng, bao gồm công nghệ, quản trị, thể chế và đổi mới sáng tạo. Muốn TFP tăng mạnh, không có con đường nào khác ngoài đầu tư cho khoa học công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và cải cách thể chế kinh tế.

Tăng trưởng bền vững không thể dựa mãi vào mở rộng tín dụng hay tăng đầu tư thuần túy. Cái gốc vẫn là năng suất.

Phóng viên: Vậy theo ông, để hiện thực hóa các mục tiêu cải cách này, vai trò của cơ quan hoạch định chính sách cần được thể hiện như thế nào?

TS. Cấn Văn Lực: Tôi cho rằng cần một sự vào cuộc đồng bộ và quyết liệt. Bộ Tài chính nên đóng vai trò điều phối trung tâm, phối hợp với các bộ ngành và tổ chức quốc tế để xây dựng bộ tiêu chí đánh giá đầu tư công theo chuẩn mực quốc tế.

Các cơ quan quản lý phải chuyển từ tư duy “giải ngân nhanh” sang “đầu tư hiệu quả”. Dự án chậm, kém hiệu quả phải bị xử lý; lĩnh vực thừa vốn phải mạnh dạn cắt giảm để bổ sung cho y tế, giáo dục, khoa học công nghệ.

Cuối cùng, minh bạch là yếu tố then chốt. Khi người dân và doanh nghiệp có thể giám sát hiệu quả sử dụng tiền thuế, trách nhiệm giải trình sẽ được nâng cao, và đó chính là nền tảng cho một mô hình tăng trưởng bền vững.

Trân trọng cảm ơn ông!

Tin bài khác
Doanh nghiệp Việt phải giữ lại nhiều giá trị hơn trong chuỗi sản xuất

Doanh nghiệp Việt phải giữ lại nhiều giá trị hơn trong chuỗi sản xuất

Muốn tiến tới nền kinh tế thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam không thể chỉ dựa vào mở rộng sản xuất và xuất khẩu. Thách thức lớn hơn là giúp doanh nghiệp trong nước tham gia sâu vào chuỗi cung ứng, làm chủ công nghệ và giữ lại nhiều giá trị gia tăng hơn.
Nhà khoa học đứng sau công nghệ lọc nước giá rẻ: “Tôi thực sự ngưỡng mộ tầm nhìn của VinFuture”

Nhà khoa học đứng sau công nghệ lọc nước giá rẻ: “Tôi thực sự ngưỡng mộ tầm nhìn của VinFuture”

Bốn năm sau khi được vinh danh với Giải Đặc biệt VinFuture dành cho Nhà khoa học đến từ các nước đang phát triển, GS. Thalappil Pradeep trở lại VinFuture với tư cách thành viên Hội đồng Giải thưởng. Trong vai trò mới, nhà khoa học đứng sau những công nghệ giúp hàng triệu người tiếp cận nguồn nước sạch với chi phí thấp nhấn mạnh rằng tác động xã hội mới là thước đo quan trọng của một nền khoa học phụng sự nhân loại.
Giảm lãi suất cần đi cùng khơi thông khả năng hấp thụ vốn

Giảm lãi suất cần đi cùng khơi thông khả năng hấp thụ vốn

Giảm lãi suất là tín hiệu tích cực đối với doanh nghiệp, song hiệu quả của chính sách còn phụ thuộc vào sức cầu thị trường, khả năng tiếp cận tín dụng và sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa.
Gỡ nút thắt, mở đường cho điện xanh trong khu công nghiệp

Gỡ nút thắt, mở đường cho điện xanh trong khu công nghiệp

Điện xanh đang trở thành lợi thế cạnh tranh của nền công nghiệp hiện đại. Từ cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA), điện mặt trời mái nhà đến lưu trữ năng lượng, đại biểu Quốc hội Nguyễn Thế Duy đề xuất tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, tạo điều kiện để doanh nghiệp chủ động tiếp cận nguồn năng lượng sạch.
ESTA hướng đến kết nối lao động kỹ thuật Việt Nam với doanh nghiệp Mỹ

ESTA hướng đến kết nối lao động kỹ thuật Việt Nam với doanh nghiệp Mỹ

Ngày 17/10, Newland USA ra mắt chương trình ESTA, kết nối lao động kỹ thuật Việt Nam với nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp Mỹ theo diện visa định cư EB-3, trước mắt tập trung vào lĩnh vực sửa chữa ô tô và bảo trì máy móc công nghiệp.
Doanh nghiệp Việt muốn hút vốn ngoại cần bắt đầu từ năng lực quản trị

Doanh nghiệp Việt muốn hút vốn ngoại cần bắt đầu từ năng lực quản trị

Cơ hội tiếp cận nhà đầu tư và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu đang mở ra với doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, để chuyển sự quan tâm thành dòng vốn và hợp đồng dài hạn, doanh nghiệp cần chứng minh năng lực quản trị, minh bạch tài chính và khả năng duy trì các tiêu chuẩn vận hành nhất quán.
Đánh thuế đất bỏ hoang cần đúng đối tượng

Đánh thuế đất bỏ hoang cần đúng đối tượng

Đề xuất áp thuế 0,2% với đất bỏ hoang, không sử dụng hoặc chậm đưa vào sử dụng đang đặt ra yêu cầu quan trọng: phân biệt rõ hành vi găm giữ đất với những dự án chậm triển khai vì nguyên nhân khách quan.
Thị trường điện cạnh tranh đã đến lúc bước ra khỏi "phòng thí nghiệm"

Thị trường điện cạnh tranh đã đến lúc bước ra khỏi "phòng thí nghiệm"

Việc Nhà máy điện mặt trời TTC Đức Huệ 2 ở Tây Ninh chính thức bán điện trực tiếp cho Samsung Electronics Việt Nam Thái Nguyên ở tỉnh Thái Nguyên từ ngày 1-6-2026 có thể xem là một cột mốc đáng chú ý của ngành điện lực(***). Sau nhiều năm tranh luận, cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) cuối cùng đã đi từ chính sách trên giấy sang giao dịch thực tế.
Cần đổi cách nhìn về sụt lún và ngập lụt ở TP. Hồ Chí Minh

Cần đổi cách nhìn về sụt lún và ngập lụt ở TP. Hồ Chí Minh

Sụt lún và ngập lụt TP. Hồ Chí Minh đang chịu tác động đồng thời từ sụt lún mặt đất, mưa cực đoan, triều cường, nước biển dâng và đô thị hóa. Các chuyên gia đề xuất chuyển sang quan trắc, dự báo sớm và quản trị rủi ro bằng dữ liệu.
Tín dụng mở thêm dư địa, du lịch cần gì để giữ dòng tiền?

Tín dụng mở thêm dư địa, du lịch cần gì để giữ dòng tiền?

Quy định mới của Ngân hàng Nhà nước tạo thêm dư địa tín dụng cho khách sạn, khu nghỉ dưỡng và các dự án gắn với du lịch. Nhưng vốn chỉ là một mắt xích, hiệu quả cuối cùng phụ thuộc vào khả năng hình thành sản phẩm, kéo dài thời gian lưu trú và tăng mức chi tiêu của du khách.
Nhà nước mua lại dự án bất động sản: Định giá thế nào để không lãng phí ngân sách?

Nhà nước mua lại dự án bất động sản: Định giá thế nào để không lãng phí ngân sách?

Đề xuất Nhà nước mua lại những dự án nhà ở thương mại mà chủ đầu tư không còn khả năng thực hiện hoặc không thể chuyển nhượng đang mở thêm một hướng xử lý các dự án bất động tồn đọng. Nhưng khi Nhà nước trở thành bên mua, câu hỏi quan trọng không chỉ là mua dự án nào mà còn là mua với giá nào, dựa trên căn cứ nào và kiểm soát ra sao để không biến việc giải cứu tài sản đình trệ thành gánh nặng ngân sách.
Chủ sở hữu hưởng lợi: Khi “bức bình phong” che khuất người kiểm soát thực sự

Chủ sở hữu hưởng lợi: Khi “bức bình phong” che khuất người kiểm soát thực sự

Những lớp sở hữu, pháp nhân trung gian hay người đại diện có thể khiến việc nhận diện chủ sở hữu hưởng lợi (CSHHL) trở nên phức tạp, đặc biệt tại các doanh nghiệp FDI và tập đoàn có cấu trúc sở hữu nhiều tầng. Bài toán này không chỉ đặt ra trách nhiệm cho doanh nghiệp mà còn liên quan đến yêu cầu minh bạch, phòng chống rửa tiền và bảo vệ quyền lợi của chính người hưởng lợi cuối cùng.
Làm sạch mã số thuế: Đề xuất phân loại tình trạng  doanh nghiệp để xử lý phù hợp

Làm sạch mã số thuế: Đề xuất phân loại tình trạng doanh nghiệp để xử lý phù hợp

Chiến dịch làm sạch mã số thuế đang đặt ra yêu cầu hoàn thiện cơ chế xử lý đối với tình trạng thực tế cụ của doanh nghiệp đã ngừng hoạt động, bỏ địa chỉ kinh doanh hoặc còn tồn tại nghĩa vụ thuế trên hồ sơ.
Nhận diện chủ sở hữu hưởng lợi: Doanh nghiệp loay hoay xác định người đứng sau?

Nhận diện chủ sở hữu hưởng lợi: Doanh nghiệp loay hoay xác định người đứng sau?

Quy định về chủ sở hữu hưởng lợi được bổ sung, làm rõ tại Nghị định 296/2026/NĐ-CP, nhưng với doanh nghiệp có cấu trúc sở hữu nhiều tầng, sở hữu chéo hoặc có yếu tố vốn FDI, việc xác định cá nhân kiểm soát cuối cùng vẫn là bài toán không đơn giản.
Dự thảo Luật Nhà ở cần làm rõ chính sách cho thuê

Dự thảo Luật Nhà ở cần làm rõ chính sách cho thuê

Tại hội thảo góp ý hoàn thiện dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi), Chủ tịch Hiệp hội Tư vấn Xây dựng Việt Nam Nguyễn Thị Duyên kiến nghị cơ quan soạn thảo làm rõ các quy định về nhà ở cho thuê, trong đó có thời hạn cho thuê theo thiết kế công trình, khái niệm “thuê mua” và cơ chế quản lý đối với các dự án sử dụng nguồn vốn khác nhau.
bao-hiem-that-nghiep