Theo Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 210/2026/KDTM-PT ngày 29/9/2026 của TAND Thành phố Hà Nội, Công ty cổ phần X có tranh chấp với Công ty TNHH C về việc bàn giao diện tích đất 447,4 m². Trên khu đất này còn nhà xưởng, máy móc và thiết bị do các bên liên quan quản lý, sử dụng.
![]() |
| Nhà xưởng, máy móc mắc kẹt sau khi hợp đồng hợp tác kết thúc. Đồ hoạ AI |
Theo hồ sơ, năm 2005 Công ty cổ phần X ký hợp đồng hợp tác kinh doanh với Công ty TNHH X1. Công ty cổ phần X góp mặt bằng, Công ty X1 góp tiền và công nghệ quản lý kinh doanh. Trong quá trình hợp tác, Công ty X1 dựng nhà xưởng trên phần đất được giao.
Hợp đồng quy định nhà xưởng chỉ được làm bằng vật liệu nhẹ, dễ tháo lắp. Khi hợp đồng kết thúc, đất và nhà xưởng thuộc quyền quản lý của Công ty cổ phần X. Công ty X1 chỉ được thu hồi các thiết bị rời do mình đầu tư.
Năm 2012, hai bên thanh lý hợp đồng. Tuy nhiên, nhà xưởng vẫn còn trên đất.
Ngày 22/3/2013, Công ty cổ phần X tiếp tục ký hợp đồng hợp tác kinh doanh với Công ty TNHH C. Sau đó, hai bên không ký hợp đồng mới.
Theo Công ty cổ phần X, Công ty TNHH C không bàn giao lại mặt bằng sau khi hợp đồng hết hạn. Nhà xưởng và máy móc vẫn nằm trên đất. Công ty cổ phần X cho biết đã nhiều lần yêu cầu bàn giao nhưng không đạt kết quả.
Công ty TNHH C thì nói mình không còn chiếm giữ mặt bằng, nhà xưởng, máy móc và thiết bị là tài sản cá nhân của bà Đào Thị T1, không phải tài sản của công ty.
Bà Đào Thị T1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Bà cho rằng mình đã nhận chuyển nhượng khung và mái nhà xưởng từ năm 2007, nên đã đưa máy móc vào nhà xưởng để sử dụng và quản lý.
Sự việc vì thế không còn là tranh chấp đơn thuần giữa hai doanh nghiệp. Tòa án phải xem xét cả quyền sử dụng mặt bằng, quyền đối với nhà xưởng và quyền sở hữu máy móc của người thứ ba.
Yêu cầu bồi thường 1,2 tỷ đồng không được chấp nhận
Trong quá trình giải quyết vụ án, Công ty cổ phần X yêu cầu Công ty TNHH C trả lại diện tích đất 447,4 m² và yêu cầu bồi thường 359,1 triệu đồng. Đây là khoản chi phí thuê kho khác từ năm 2017 đến năm 2019 do việc chậm bàn giao mặt bằng.
Ở chiều ngược lại, bà T1 yêu cầu Công ty cổ phần X hoàn trả máy móc, thiết bị và bồi thường thiệt hại. Bà cho rằng nhà xưởng, máy móc bị hư hỏng do việc tiếp cận và di chuyển tài sản bị cản trở. Tại giai đoạn phúc thẩm, bà yêu cầu bồi thường 1,2 tỷ đồng.
Theo bản án, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu của Công ty cổ phần X, buộc Công ty TNHH C trả lại mặt bằng và bồi thường 359,1 triệu đồng. Tòa không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà T1 về việc buộc Công ty cổ phần X hoàn trả máy móc, thiết bị và bồi thường thiệt hại.
Tại cấp phúc thẩm, TAND thành phố Hà Nội không chấp nhận kháng cáo của bà T1. Tòa cho rằng bà không chứng minh được Công ty cổ phần X đã tiếp nhận, quản lý hoặc sử dụng số máy móc đang nằm trong nhà xưởng.
Tòa cũng nhận định việc bà T1 cho rằng mình từng gặp khó khăn khi di chuyển tài sản không đồng nghĩa với việc tài sản đã được chuyển giao cho Công ty cổ phần X quản lý hoặc sử dụng.
Đối với yêu cầu bồi thường, bà T1 không cung cấp đủ tài liệu chứng minh tình trạng tài sản trước và sau khi xảy ra sự việc. Hồ sơ cũng không có kết quả định giá hoặc giám định để xác định mức độ hư hỏng và giá trị thiệt hại thực tế.
Một số tài liệu được bà T1 cung cấp thể hiện việc mua bán, bàn giao máy móc từ năm 2002. Tuy nhiên, người mua và nhận bàn giao theo tài liệu là người khác, không phải bà T1. Hồ sơ cũng chưa đủ căn cứ xác định máy móc được ghi trong các chứng từ chính là máy đang có tại nhà xưởng tranh chấp.
Tòa nhận định chưa có đủ căn cứ xác định thiệt hại phát sinh trực tiếp từ hành vi mà bà T1 cho rằng Công ty cổ phần X đã thực hiện.
Bài học về hợp đồng và tài sản của bên thứ ba
| Theo Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh yêu cầu có căn cứ và hợp pháp. Trong tranh chấp tài sản, việc chứng minh quyền sở hữu mới chỉ là bước đầu. Người yêu cầu bồi thường còn cần chứng minh tài sản bị thiệt hại như thế nào, thiệt hại xảy ra vào thời điểm nào và nguyên nhân có liên quan đến hành vi của bên bị yêu cầu bồi thường hay không. |
Khi hợp tác kinh doanh kết thúc, các bên thường tập trung vào việc thanh toán công nợ. Việc bàn giao mặt bằng và xử lý tài sản đôi khi chưa được thực hiện đầy đủ.
Nếu hợp đồng không quy định rõ cách xử lý nhà xưởng, máy móc và thiết bị khi chấm dứt, tranh chấp có thể kéo dài. Rủi ro càng lớn khi tài sản do một doanh nghiệp đầu tư nhưng sau đó được chuyển nhượng cho cá nhân hoặc đơn vị khác.
Doanh nghiệp cho thuê mặt bằng cần quy định rõ tài sản nào được phép xây dựng. Hợp đồng phải xác định ai sở hữu công trình sau khi hợp tác kết thúc. Hợp đồng cũng cần quy định thời hạn tháo dỡ, bàn giao và trách nhiệm nếu bên thuê không thực hiện đúng cam kết.
Doanh nghiệp sử dụng mặt bằng cần lập danh mục tài sản ngay từ đầu. Danh mục nên ghi rõ nguồn gốc, chủ sở hữu, giá trị và tình trạng tài sản. Khi hợp đồng kết thúc, các bên cần kiểm kê, lập biên bản bàn giao và xác nhận những tài sản còn tồn tại trên đất.
Nếu có tài sản thuộc sở hữu của bên thứ ba, các bên cần làm rõ quyền và nghĩa vụ của người đó. Không nên để tài sản nằm lại trong nhà xưởng mà không có thỏa thuận về quyền tiếp cận, di chuyển, bảo quản và thời hạn xử lý.
