Việc cấp phép khai thác khoáng sản đòi hỏi sự tuân thủ chặt chẽ các quy định về thẩm quyền, hồ sơ và trữ lượng được phép khai thác. Vụ án liên quan đến cựu Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa Lê Đức Giang cùng 10 bị cáo khác cho thấy những hệ quả pháp lý có thể phát sinh khi quá trình quản lý, cấp phép và hoạt động khai thác bị cơ quan tố tụng xác định có vi phạm.
Theo thông tin từ Tòa án nhân dân TP. Hà Nội, cơ quan này dự kiến sẽ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án vào ngày 29/10/2026. Các bị cáo bị đưa ra xét xử về bốn tội danh liên quan đến quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước; khai thác tài nguyên; kế toán và thuế.
Bốn nhóm tội danh trong vụ án
Trong vụ án này, cựu Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa Lê Đức Giang; Phạm Văn Hoành - cựu Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thanh Hóa; Nguyễn Thế Hùng - cựu Trưởng phòng Tài nguyên khoáng sản thuộc Sở và Nguyễn Văn Tâm - cựu chuyên viên Văn phòng UBND tỉnh Thanh Hóa, bị đưa ra xét xử về tội “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí”.
![]() |
| Cựu Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa Lê Đức Giang - Ảnh: Bộ Công an. |
Bốn bị cáo gồm Nguyễn Xuân Tùng - Giám đốc Công ty cổ phần Khoáng sản Thiên An Phát, cùng Nguyễn Gia Hải, Hà Thị Nga và Nguyễn Thị Cúc cùng là các thành viên góp vốn của doanh nghiệp này, bị xét xử về các tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên” và “Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng”.
Hai bị cáo Nguyễn Công Bắc và Trần Văn Linh bị xét xử về tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên”. Bị cáo Nguyễn Thị Tâm, Giám đốc Công ty cổ phần Xây dựng và Thương mại Thanh Tâm, bị xét xử về tội “Trốn thuế”.
Theo thông tin về kế hoạch xét xử, phiên tòa dự kiến diễn ra trong hai ngày, do Thẩm phán Lê Quang Chiều làm chủ tọa. Gần 20 luật sư đăng ký tham gia bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị cáo; riêng ông Lê Đức Giang có 5 luật sư bào chữa.
Cáo trạng xác định thất thoát hơn 5,1 tỷ đồng
Theo cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao, trong quá trình thẩm định, tham mưu và quyết định việc chuyển nhượng quyền khai thác, cấp giấy phép khai thác khoáng sản tại Mỏ số 2 cho Công ty Thiên An Phát, một số cá nhân bị cáo buộc đã làm trái nhiệm vụ được giao, vi phạm quy định về quản lý tài nguyên khoáng sản.
Cáo trạng xác định, khi giữ chức Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa, ông Lê Đức Giang được phân công theo dõi, chỉ đạo lĩnh vực tài nguyên, khoáng sản và hoạt động của Sở Tài nguyên và Môi trường, nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường.
Trong quá trình giải quyết hồ sơ, ông Giang đã ký văn bản chấp thuận chuyển nhượng quyền khai thác Mỏ số 2 và ký giấy phép khai thác khoáng sản cho Công ty Thiên An Phát. Theo cơ quan công tố, việc này không phù hợp với các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý tài nguyên khoáng sản.
Cụ thể, trữ lượng được cấp phép vượt trữ lượng còn lại đã được phê duyệt là 46.051,44 m³ cát ở thể tự nhiên, tương đương 51.807,88 m³ cát ở thể nở rời. Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Thanh Hóa xác định lượng cát này có tổng trị giá hơn 5,1 tỷ đồng tại thời điểm cấp phép.
Cũng theo cáo trạng, ông Lê Đức Giang bị xác định hưởng lợi trái phép 180 triệu đồng. Cựu Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Phạm Văn Hoành bị xác định có trách nhiệm trong quá trình tham mưu, trình hồ sơ và hưởng lợi 60 triệu đồng.
Các nội dung trên là cáo buộc của cơ quan công tố, sẽ được xem xét tại phiên tòa theo trình tự tố tụng.
Trách nhiệm quản lý và hoạt động của doanh nghiệp
Vụ án không chỉ liên quan đến quá trình thẩm định, tham mưu và cấp phép khai thác khoáng sản của các cá nhân từng giữ chức vụ quản lý nhà nước, mà còn đặt ra vấn đề tuân thủ của doanh nghiệp trong hoạt động khai thác và ghi nhận doanh thu.
Theo cáo trạng, các bị cáo thuộc Công ty Thiên An Phát bị xét xử về các tội liên quan đến khai thác tài nguyên và kế toán. Một bị cáo là giám đốc doanh nghiệp khác bị xét xử về tội trốn thuế. Đây là các nhóm hành vi khác nhau, được xem xét theo từng bị cáo và vai trò cụ thể trong vụ án.
Đối với hoạt động khai thác khoáng sản, giấy phép và trữ lượng được cấp là căn cứ quan trọng để xác định phạm vi khai thác hợp pháp. Doanh nghiệp cần tổ chức theo dõi sản lượng thực tế, quản lý hồ sơ khai thác, ghi nhận đầy đủ số liệu kế toán và thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định. Việc đối chiếu giữa hồ sơ cấp phép, sản lượng khai thác, lượng tiêu thụ và doanh thu giúp phát hiện sớm những sai lệch trong quản lý.
Ở góc độ quản lý nhà nước, quy trình thẩm định và cấp phép cần bảo đảm việc kiểm tra hồ sơ, căn cứ pháp lý và trữ lượng được thực hiện đầy đủ; trách nhiệm của từng cá nhân trong khâu tham mưu, thẩm định và quyết định cần được xác định rõ. Đây là những yêu cầu có ý nghĩa đối với hoạt động quản lý tài nguyên và hạn chế nguy cơ phát sinh sai phạm.
Theo thông tin về vụ án, đến nay các bị cáo, gia đình các bị cáo và cá nhân liên quan đã nộp hơn 87 tỷ đồng để khắc phục hậu quả. Khoản tiền này được ghi nhận trong quá trình giải quyết vụ án, không thay thế cho việc xem xét trách nhiệm hình sự của từng bị cáo tại phiên tòa.
Phiên tòa dự kiến khai mạc ngày 29/10 sẽ xem xét các cáo buộc liên quan đến quá trình cấp phép khai thác khoáng sản, hoạt động khai thác, kế toán và thuế. Kết quả xét xử sẽ là căn cứ xác định trách nhiệm pháp lý của từng bị cáo theo quy định.
