Thứ hai 19/10/2026 16:25
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Nghịch lý tăng lương tại Việt Nam

12/10/2020 00:00
Lương cơ sở, lương tối thiểu được cho là biện pháp nâng cao mức sống cho các cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang, người lao động. Thế nhưng, mỗi lần tăng lương là một lần người dân, doanh nghiệp bị tăng thêm gánh nặng thuế, phí. Tại sao?

tang luong(Ảnh: M. Tân)

Tăng lương cơ sở khiến ngân sách ‘hụt hơi’

Đối với khối công chức, tiền lương tính theo hệ số nhân với lương cơ sở, nên nếu lương cơ bản tăng, đồng nghĩa với thu nhập tăng. Phần chi lương tăng thêm sẽ do ngân sách nhà nước cấp, do đó, tăng thêm gánh nặng cho ngân sách.

Theo Nghị định 72/2018/NĐ-CP, từ ngày 1/7/2018, mức lương cơ sở áp dụng là 1,39 triệu đồng/tháng. Mức lương cơ sở được điều chỉnh qua các năm như sau:

Trong 14 năm, từ năm 2004 đến năm 2018, lương cơ sở được điều chỉnh tăng 379%.

Về lý thuyết, mức lương cơ sở được điều chỉnh trên cơ sở khả năng ngân sách nhà nước, chỉ số giá tiêu dùng và tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất nước. Tuy nhiên, thực tế, với tỷ trọng lớn, tăng cao, chi thường xuyên (chủ yếu là chi lương) lại trở thành nguyên nhân chính khiến tình hình ngân sách trở nên căng thẳng.

Theo Bộ Tài chính, từ năm 2006 đến năm 2010, tổng chi ngân sách nhà nước bình quân ở mức 29,8% GDP, tăng trên 20%/năm, quy mô chi ngân sách năm 2010 cao gấp 2,5 lần so với năm 2005. Cơ cấu chi bắt đầu dịch chuyển từ chi đầu tư phát triển sang chi thường xuyên. Bình quân cả giai đoạn trên, chi đầu tư phát triển chiếm 28,8% tổng chi NSNN, giảm so với mức bình quân 30,8% giai đoạn 2001-2005. Tỷ trọng chi thường xuyên có xu hướng tăng, từ mức 52,5% tổng chi NSNN năm 2006 lên 58% năm 2010.

Từ năm 2011 đến năm 2015, chi đầu tư bình quân khoảng 23,6%. Trong khi đó, chi thường xuyên bình quân chiếm khoảng 63% tổng chi NSNN.

Năm 2016, chi thường xuyên chiếm khoảng 61,7% tổng chi ngân sách (chi đầu tư chiếm khoảng 24%). Năm 2017, chi thường xuyên ước thực hiện cả năm là 907,89 nghìn tỷ đồng, tăng 11,6 nghìn tỷ đồng (1,3%) so với dự toán.

Năm 2018, dự toán chi thường xuyên (bao gồm cả chi tạo nguồn cải cách tiền lương và tinh giản biên chế) là 976,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 64,1% tổng chi NSNN, thấp hơn dự toán năm 2017 (64,9%).

Trong cơ cấu chi thường xuyên, bình quân chi lương tăng với tốc độ 11,7% mỗi năm (do tăng lương và tăng biên chế). Trong 10 năm, từ năm 2004 đến năm 2015, số chi quản lý hành chính cho các cơ quan trung ương đã tăng hơn 12 lần, từ 3.000 tỷ đồng lên 37.395 tỷ đồng.

Giai đoạn 2001-2005, tốc độ tăng khoản chi cho lương hưu và đảm bảo xã hội là 11,1% mỗi năm. Tới giai đoạn 2010-2015, tốc độ chi cho khoản này tăng lên tới gần 18% mỗi năm (cùng giai đoạn, chi cho khoa học công nghệ chỉ chiếm khoảng 0,9% trong tổng chi thường xuyên).

Mặc dù vậy, theo lộ trình cải cách tiền lương của Chính phủ, từ năm 2018 đến 2020, nhà nước sẽ tiếp tục điều chỉnh tăng mức lương cơ sở. Từ năm 2021, tiền lương thấp nhất của cán bộ, công chức, viên chức bằng mức lương thấp nhất bình quân của khu vực doanh nghiệp…

Tăng lương tối thiểu, tiền từ khối doanh nghiệp chảy sang túi nhà nước

Đối với khối lao động doanh nghiệp, tăng lương tối thiểu cơ bản không tác động đến thu nhập vì chủ lao động và người lao động đã có mức lương thoả thuận theo hợp đồng. Thông thường, mức lương trong hợp đồng đã cao hơn mức lương cơ bản, nên doanh nghiệp không phải điều chỉnh hợp đồng sau mỗi lần tăng lương tối thiểu của Chính phủ.

Nhưng do lương tối thiểu là căn cứ để Nhà nước trích thu các khoản bảo hiểm, phí công đoàn, tính tiền làm thêm giờ… từ doanh nghiệp và người lao động, nên các khoản đóng góp từ doanh nghiệp và người lao động sẽ tăng lên.

Thông thường, các doanh nghiệp không đóng bảo hiểm cho cán bộ theo thu nhập, mức lương đóng bảo hiểm xã hội sẽ ghi thấp hơn, tương ứng với ngach bậc tối thiểu của ngành nghề đó do Bộ LĐTBXH quy định.

Khi lương tối thiểu tăng, thì mức lương đóng bảo hiểm xã hội tăng, doanh nghiệp và người lao động phải đóng thêm phần trăm tăng thêm. Để người lao động không bị sụt lương sau mỗi lần tăng lương tối thiểu (để giữ chân người lao động) thì doanh nghiệp phải bù phần tăng thêm của mình và của người lao động. Dù phần doanh nghiệp phải đóng được tính vào chi phí doanh nghiệp để trừ đi khi tính lợi nhuận nộp thuế, mỗi lần điều chỉnh tăng lương làm tăng chi phí của doanh nghiệp từ vài tỷ đồng tới vài trăm tỷ đồng mỗi năm. Việc tăng lương tối thiểu liên tục làm tăng gánh nặng chi phí đối với doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động (như dệt may, da giày, điện tử, chế biến thủy sản…)

Trong khi chi phí doanh nghiệp tăng thêm, ngược lại, Quỹ Bảo hiểm xã hội – một quỹ an sinh do người dân đóng góp, nhà nước quản lý, và thường cho Chính phủ vay tiền – lại tăng thêm tổng thu. Thực tế, mức đóng bảo hiểm tối thiểu qua các năm không chỉ tăng theo lương tối thiểu mà còn theo mức tăng của tỷ lệ trích đóng bảo hiểm. Từ năm 2007 đến 2018, tỷ lệ đóng bảo hiểm đã tăng 9 điểm phần trăm, từ 23% lên 32% mức lương tối thiểu vùng, trong đó, tỷ lệ đóng bảo hiểm của DN tăng từ 17% lên 21,5%, của NLĐ tăng từ 6% lên 10,5%. Mức đóng này đang cao nhất trong khu vực ASEAN.

Ngoài ra, theo Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR), tại Việt Nam có khoảng 50% lao động không có hợp đồng lao động, làm việc trong khu vực phi chính thức. Về lý thuyết, những người lao động trong khu vực phi chính thức sẽ không bị tác động bởi chính sách tính lương của nhà nước. Mặc dù khong nhận được lợi ích gì từ việc tăng lương cơ sở/tăng lương tối thiểu nhưng đây lại là đối tượng chịu ảnh hưởng tiêu cực khi giá cả các mặt hàng thiết yếu tăng cao sau mỗi lần tăng lương.

Tựu chung lại, điều chỉnh tăng lương tối thiểu sẽ làm tăng chi phí của doanh nghiệp. Nhưng tiền đó “chảy” vào Quỹ Bảo hiểm xã hội và quỹ công đoàn chứ không phải cho người lao động.

Lương cơ sở liên tục được điều chỉnh tăng qua các năm cũng khiến ngân sách căng thẳng khi tiền lương của cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang nhân theo hệ số. Dư thừa biên chế càng khiến ngân sách thâm hụt, mà thực chất là làm tăng gánh nặng thuế, phí lên người dân.

Trong khi đó, mức lương thực tế của người lao động không đổi, thậm chí giảm do giá cả tăng, giảm việc làm.

Vĩnh Long

Tin bài khác
Thủ tướng kiên định kiểm soát lạm phát để bảo vệ thành quả tăng trưởng

Thủ tướng kiên định kiểm soát lạm phát để bảo vệ thành quả tăng trưởng

Thủ tướng Chính Lê Minh Hưng nhấn mạnh tăng trưởng kinh tế phải đi cùng ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát và giảm chi phí cho người dân, doanh nghiệp. Đây là nền tảng để bảo đảm thành quả phát triển không bị bào mòn bởi giá cả tăng cao.
Việt Nam - Thụy Sĩ thúc đẩy hợp tác công nghệ sau lễ ký VEFTA

Việt Nam - Thụy Sĩ thúc đẩy hợp tác công nghệ sau lễ ký VEFTA

Sau lễ ký Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EFTA (VEFTA), hợp tác Việt Nam – Thụy Sĩ đứng trước cơ hội mở rộng sang những lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao. Trọng tâm tiếp theo là kết nối doanh nghiệp với trường đại học, viện nghiên cứu và các trung tâm đổi mới sáng tạo để chuyển định hướng hợp tác thành dự án, công nghệ và năng lực sản xuất cụ thể.
Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú: Chỉ nên tăng giá điện khi phát sinh chi phí

Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú: Chỉ nên tăng giá điện khi phát sinh chi phí

Nhấn mạnh yêu cầu kiểm soát lạm phát dưới 4,5%, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đề nghị rà soát, điều hành giá các mặt hàng thiết yếu, trong đó giá điện cần được nghiên cứu theo hướng giảm, chỉ xem xét tăng khi chi phí đầu vào phát sinh.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn: Kiểm soát giá cả, khơi thông nguồn vốn cho doanh nghiệp

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn: Kiểm soát giá cả, khơi thông nguồn vốn cho doanh nghiệp

Tại phiên thảo luận tổ ngày 18/10, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh yêu cầu chủ động kiểm soát giá các mặt hàng thiết yếu, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời nghiên cứu giải pháp giảm lãi suất cho vay, tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận vốn, phục hồi và mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Việt Nam và Iceland tăng tốc triển khai FTA với EFTA

Việt Nam và Iceland tăng tốc triển khai FTA với EFTA

Việc ký kết Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EFTA mở thêm dư địa hợp tác giữa Việt Nam và Iceland, nhất là trong thương mại, đầu tư và năng lượng. Hai nước nhất trí tăng cường phối hợp, thúc đẩy các thủ tục cần thiết để sớm đưa Hiệp định vào thực tiễn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp khai thác hiệu quả những cơ hội mới.
Hiệp định Việt Nam - EFTA mở thêm dư địa xuất khẩu cho doanh nghiệp Việt

Hiệp định Việt Nam - EFTA mở thêm dư địa xuất khẩu cho doanh nghiệp Việt

Sự kiện Việt Nam ký Hiệp định Thương mại tự do với Hiệp hội Mậu dịch Tự do châu Âu (EFTA) là dấu mốc quan trọng, mở thêm cánh cửa tiếp cận các thị trường có sức mua cao, đồng thời tạo cơ hội thu hút vốn, công nghệ và mở rộng cơ hội việc làm. Hiệu quả thực tế sẽ phụ thuộc vào khả năng tận dụng ưu đãi và đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Xuất nhập khẩu năm nay hướng tới mốc 1.110 tỷ USD

Xuất nhập khẩu năm nay hướng tới mốc 1.110 tỷ USD

Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam năm 2026 ước đạt 1.110 tỷ USD, lần đầu vượt ngưỡng 1.000 tỷ USD. Kết quả này cùng đà tăng trưởng kinh tế và dòng vốn đầu tư nước ngoài cho thấy quy mô thương mại tiếp tục mở rộng, song cũng đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng, tăng giá trị hàng hóa và củng cố sức chống chịu của doanh nghiệp.
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu giảm lãi suất cho vay 1,5 - 2%

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu giảm lãi suất cho vay 1,5 - 2%

Trước áp lực chi phí vốn còn cao, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khẩn trương triển khai các giải pháp thực chất nhằm giảm lãi suất cho vay từ 1,5 - 2% đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên; đồng thời tăng cường kiểm soát, xử lý tình trạng sở hữu chéo, sở hữu ngầm và thao túng hoạt động ngân hàng.
Vì sao doanh nghiệp đầu tàu ở Đồng bằng sông Cửu Long vẫn khó bứt phá?

Vì sao doanh nghiệp đầu tàu ở Đồng bằng sông Cửu Long vẫn khó bứt phá?

Dù có lợi thế về nông nghiệp, thủy sản và xuất khẩu, doanh nghiệp đầu tàu Đồng bằng sông Cửu Long vẫn khó bứt phá vì vướng vốn, lãi suất, chính sách và hạn chế công nghệ. Tăng cường liên kết vùng, cải thiện môi trường đầu tư và tháo gỡ điểm nghẽn thực thi là những yêu cầu cấp thiết.
Khơi thông nguồn vốn để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng từ 10%

Khơi thông nguồn vốn để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng từ 10%

Mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên trong năm 2027 đặt ra yêu cầu cao hơn đối với khả năng huy động và sử dụng nguồn lực của nền kinh tế. Kết luận số 106-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhấn mạnh việc phối hợp chính sách tài khóa, tiền tệ, cải thiện môi trường đầu tư và tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển. Đây là những định hướng quan trọng nhằm chuyển mục tiêu tăng trưởng thành kết quả thực chất.
Điều hành giá cuối năm 2026: Chủ động nguồn cung, kiểm soát lạm phát

Điều hành giá cuối năm 2026: Chủ động nguồn cung, kiểm soát lạm phát

Công điện số 70/CĐ-TTg ngày 15/10/2026 yêu cầu các bộ, ngành và địa phương tăng cường quản lý, điều hành giá, bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu, xử lý nghiêm hành vi đầu cơ, găm hàng, phấn đấu kiểm soát CPI bình quân năm 2026 tăng khoảng 4,5%.
TP. Hồ Chí Minh dồn lực cho mục tiêu tăng trưởng GRDP hai con số

TP. Hồ Chí Minh dồn lực cho mục tiêu tăng trưởng GRDP hai con số

GRDP tăng 9,06% trong 9 tháng đầu năm 2026, thu hút 17,8 tỷ USD vốn FDI và giải ngân đầu tư công đạt 75,5% kế hoạch, TP. Hồ Chí Minh đang tăng tốc để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cả năm. Tuy nhiên, với yêu cầu GRDP quý IV tăng 13,23%, thành phố cần tiếp tục khơi thông nguồn lực, tháo gỡ vướng mắc dự án và thúc đẩy đầu tư công lẫn tư nhân.
Thủ tướng Lê Minh Hưng: Ưu tiên nguồn lực cho những nhu cầu thiết yếu của người dân

Thủ tướng Lê Minh Hưng: Ưu tiên nguồn lực cho những nhu cầu thiết yếu của người dân

Tại Hội nghị triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026–2035 sáng 15/10, Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu tập trung nguồn lực có trọng tâm, ưu tiên nước sinh hoạt, đất ở, đất sản xuất và các nhiệm vụ trực tiếp cải thiện đời sống, nhất là tại vùng khó khăn; kiên quyết không để người dân phải chờ đợi, không để chính sách bị gián đoạn.
Việt Nam - Lào thúc tiến độ các dự án giao thông, năng lượng trọng điểm

Việt Nam - Lào thúc tiến độ các dự án giao thông, năng lượng trọng điểm

Nhằm đưa quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Lào phát triển thực chất, hiệu quả hơn trong giai đoạn mới, Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh cần đẩy nhanh các tuyến kết nối chiến lược, khơi thông dòng vốn đầu tư và mở rộng hợp tác thương mại.
Đưa doanh nghiệp vào trung tâm hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, thúc đẩy thương mại hóa công nghệ

Đưa doanh nghiệp vào trung tâm hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, thúc đẩy thương mại hóa công nghệ

Phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo theo hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm, gắn nghiên cứu với nhu cầu thị trường và đẩy mạnh thương mại hóa công nghệ là những nhiệm vụ trọng tâm được Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh. Trong đó, yêu cầu nghiên cứu cơ chế đặt hàng phát triển sản phẩm công nghệ, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo có tiềm năng tăng trưởng nhanh được kỳ vọng tạo động lực mới cho nền kinh tế.