Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Lào Cai vừa yêu cầu các sở, ngành, địa phương tổ chức thực hiện các nghị quyết của HĐND tỉnh về chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển dược liệu. Trong đó, Sở Nông nghiệp và Môi trường được giao tham mưu trình tự, thủ tục, hồ sơ và tổ chức triển khai Nghị quyết số 24/2026/NQ-HĐND ngày 11/8/2026.
Nếu nhìn dưới góc độ chính sách phát triển ngành hàng, điểm đáng quan tâm không chỉ là Lào Cai có thêm cơ chế hỗ trợ dược liệu, mà là cách nguồn lực được đưa đến đúng vùng, đúng đối tượng và gắn với nhu cầu thực tế của thị trường.
![]() |
| Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung thăm vườn dược liệu của HTX Cồ Dề Chải, xã Bắc Hà, tỉnh Lào Cai (Ảnh: Thanh Tiến) |
Lào Cai có lợi thế tự nhiên để phát triển nhiều loại cây dược liệu. Atiso là một ví dụ về loại cây vừa có khả năng tạo giá trị kinh tế, vừa góp phần định hình thương hiệu dược liệu địa phương.
Nhưng lợi thế tự nhiên mới chỉ là điều kiện ban đầu. Thực tế của nhiều ngành nông nghiệp cho thấy mở rộng diện tích nhanh hơn khả năng tiêu thụ có thể dẫn tới mất cân đối cung – cầu. Với dược liệu, yêu cầu còn cao hơn bởi nguyên liệu liên quan trực tiếp tới chất lượng, tiêu chuẩn sản xuất, quy trình thu hái, sơ chế và khả năng truy xuất nguồn gốc.
Do đó, thước đo của chính sách hỗ trợ không nên chỉ nhìn vào số diện tích được mở mới hay số hộ nhận hỗ trợ. Điều quan trọng hơn là sau hỗ trợ, vùng sản xuất có hình thành được chuỗi liên kết ổn định hay không.
Ở đó, người dân là chủ thể sản xuất; hợp tác xã có thể đảm nhiệm vai trò tổ chức vùng nguyên liệu; doanh nghiệp tham gia chế biến, tiêu thụ và đưa sản phẩm ra thị trường. Khi các mắt xích được kết nối, cây dược liệu mới có cơ hội đi từ sản phẩm nông nghiệp sang hàng hóa có giá trị cao hơn.
Một chi tiết đáng chú ý trong cách triển khai của Lào Cai là UBND các xã, phường được giao rà soát, tổng hợp nhu cầu đăng ký tham gia chính sách của doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình và cá nhân hằng năm, sau đó gửi Sở Nông nghiệp và Môi trường.
Đây có thể xem là mắt xích quan trọng giữa thiết kế chính sách và thực tiễn sản xuất. Thay vì chỉ xác định một nguồn lực hỗ trợ rồi tìm đối tượng thụ hưởng, việc rà soát nhu cầu từ cơ sở giúp hình thành dữ liệu về ai muốn trồng, trồng ở đâu, quy mô thế nào và chủ thể nào có nhu cầu tham gia.
Nếu dữ liệu này được cập nhật tốt, cơ quan quản lý sẽ có thêm căn cứ để nhận diện nhu cầu thực tế của từng địa bàn và hạn chế khoảng cách giữa chính sách được thiết kế với khả năng hấp thụ chính sách của người dân, HTX và doanh nghiệp.
Quan trọng hơn, dữ liệu về người sản xuất cần được đặt cạnh nhu cầu nguyên liệu của doanh nghiệp. Một vùng dược liệu có thể được mở rộng nhanh bằng hỗ trợ ban đầu, nhưng để tồn tại lâu dài phải trả lời được câu hỏi: nguyên liệu sau thu hoạch sẽ đi đâu?
Doanh nghiệp là mắt xích đưa dược liệu vào thị trường. Đây cũng là lý do chính sách phát triển dược liệu sẽ phát huy giá trị lớn hơn khi thu hút được doanh nghiệp tham gia từ sớm.
Nếu doanh nghiệp chỉ xuất hiện ở khâu cuối cùng để mua nguyên liệu, mối liên kết với người sản xuất thường dễ bị tác động khi giá thị trường biến động. Ngược lại, khi doanh nghiệp tham gia từ lựa chọn giống, tiêu chuẩn vùng trồng, quy trình sản xuất đến thu mua và chế biến, khả năng hình thành chuỗi giá trị sẽ rõ hơn.
Với người dân, một thị trường đầu ra tương đối ổn định giúp giảm rủi ro khi chuyển đổi cây trồng. Với doanh nghiệp, vùng nguyên liệu được tổ chức tốt giúp kiểm soát chất lượng và nguồn cung. Với địa phương, giá trị kinh tế không chỉ nằm ở sản lượng dược liệu mà còn có thể được mở rộng qua sơ chế, chế biến và phát triển sản phẩm.
Bởi vậy, câu chuyện phát triển dược liệu của Lào Cai về lâu dài không đơn thuần là trồng thêm bao nhiêu hecta, mà là mỗi hecta tạo ra bao nhiêu giá trị và phần giá trị người sản xuất được hưởng tăng lên như thế nào.
Việc ban hành chính sách hỗ trợ tạo thêm điều kiện để khai thác lợi thế dược liệu của Lào Cai, nhất là tại những địa bàn phù hợp về khí hậu, thổ nhưỡng và có nhu cầu chuyển đổi sinh kế.
Một chính sách hiệu quả sẽ được phản ánh rõ hơn qua khả năng thu hút người dân, HTX và doanh nghiệp cùng tham gia; vùng nguyên liệu được duy trì sau thời gian hỗ trợ; sản phẩm được chế biến sâu hơn và thu nhập của người trồng được cải thiện.
Khi đó, cây dược liệu không chỉ là một lựa chọn chuyển đổi sản xuất ở vùng cao. Nó có thể trở thành một phần của kinh tế nông nghiệp hàng hóa, nơi lợi thế khí hậu và tài nguyên bản địa được chuyển hóa thành sản phẩm có thị trường và giá trị gia tăng cao hơn.
Và đó mới là chiều sâu đáng chờ đợi từ chính sách khuyến khích phát triển dược liệu của Lào Cai: không dừng ở hỗ trợ một cây trồng, mà tạo thêm điều kiện để hình thành một chuỗi giá trị có khả năng đem lại sinh kế bền vững cho người dân và không gian đầu tư cho doanh nghiệp.