Sáu tháng đầu năm 2026, tổng nguồn vốn tín dụng chính sách tại Lào Cai đạt 12.781 tỷ đồng, tăng 1.051 tỷ đồng so với đầu năm. Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) tỉnh Lào Cai đã giải ngân 2.103 tỷ đồng cho 26.559 lượt hộ gia đình và các đối tượng chính sách.
Nhưng phía sau quy mô vốn, cơ cấu cho vay mới là điểm đáng chú ý. Dư nợ chương trình giải quyết việc làm tăng 683 tỷ đồng, mức tăng cao nhất trong các chương trình. Cho vay sản xuất, kinh doanh tại vùng khó khăn tăng 335 tỷ đồng; nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tăng 294 tỷ đồng; nhà ở xã hội tăng 57 tỷ đồng.
Những con số này cho thấy dòng vốn chính sách đang hướng khá rõ vào những nhu cầu gắn trực tiếp với đời sống và khả năng tạo thu nhập của người dân.
Riêng nhóm chương trình tạo việc làm trong và ngoài nước, doanh số cho vay sáu tháng đạt 907 tỷ đồng với 9.355 lượt lao động được vay vốn, bình quân khoảng 97 triệu đồng mỗi lao động. Tổng dư nợ đạt 3.443 tỷ đồng với 43.410 lao động còn dư nợ. Nguồn vốn đã góp phần tạo việc làm cho 43.137 lao động trong nước và 273 lao động có thời hạn ở nước ngoài.
![]() |
| NHCSXH tỉnh Lào Cai đã giải ngân 2.103 tỷ đồng trong 6 tháng, hỗ trợ 26.559 lượt hộ gia đình và các đối tượng chính sách |
Một khoản hỗ trợ có thể giúp người lao động vượt qua khó khăn trước mắt. Nhưng vốn để tạo việc làm có khả năng tạo ra một chu trình dài hơn: có vốn để sản xuất, kinh doanh hoặc tiếp cận một cơ hội việc làm mới; từ việc làm hình thành thu nhập; từ thu nhập tạo khả năng tích lũy và từng bước cải thiện đời sống. Đặc biệt, với lao động miền núi, vùng khó khăn, rào cản đôi khi không phải thiếu mong muốn làm việc mà là thiếu nguồn lực ban đầu để bước vào thị trường lao động.
Trong sáu tháng, NHCSXH tỉnh Lào Cai hỗ trợ chi phí cho 81 lao động đi làm việc ở nước ngoài. Riêng nguồn ngân sách địa phương, doanh số cho vay nhóm tạo việc làm trong và ngoài nước đạt 442 tỷ đồng, chiếm 99,1% doanh số cho vay từ nguồn vốn này; trong đó có 51 lao động được hỗ trợ đi làm việc ở nước ngoài.
Điểm đáng chú ý không chỉ nằm ở 81 trường hợp được vay vốn. Với một gia đình vùng cao, chi phí ban đầu có thể trở thành rào cản khiến cơ hội việc làm ở nước ngoài dù có nhưng vẫn nằm ngoài khả năng tiếp cận. Tín dụng chính sách, trong trường hợp đó, đóng vai trò như chiếc cầu nối giữa cơ hội việc làm và khả năng thực tế của người lao động.
Một chính sách tốt nhưng khó tiếp cận thì hiệu quả cũng bị giới hạn. Điều này càng rõ tại Lào Cai, nơi địa bàn rộng và phần lớn khách hàng tín dụng chính sách thuộc khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Hiện có 112.513 khách hàng là đồng bào dân tộc thiểu số còn dư nợ, chiếm 70,8% tổng số khách hàng vay vốn.
Bởi vậy, 319 điểm giao dịch tại cơ sở có ý nghĩa nhiều hơn một mạng lưới nghiệp vụ ngân hàng. Trong sáu tháng, hơn 2.000 phiên giao dịch được tổ chức; 99,3% lượt hộ vay nhận tiền, 99% lượt trả nợ và 99,5% lượt trả lãi được thực hiện ngay tại điểm giao dịch xã. Khoảng cách từ chính sách đến người thụ hưởng vì thế được rút ngắn theo nghĩa rất cụ thể: giảm quãng đường đi lại, giảm thời gian và giảm chi phí tiếp cận vốn.
Giá trị cuối cùng nằm ở thu nhập của người lao động Tín dụng chính sách vẫn là vốn vay và người lao động phải hoàn trả. Vì vậy, hướng mạnh nguồn lực vào tạo việc làm cũng đồng nghĩa yêu cầu về chất lượng việc làm và khả năng tạo thu nhập phải được đặt cao hơn.
Điều này đặc biệt quan trọng với lao động đi làm việc ở nước ngoài. Hiệu quả không thể chỉ tính bằng số người được vay vốn và xuất cảnh, mà còn nằm ở thị trường tiếp nhận, chi phí thực tế, thu nhập, khả năng trả nợ và khoản tích lũy người lao động mang về sau khi kết thúc hợp đồng. Chính dữ liệu nguồn cũng lưu ý việc cho vay nhóm này cần gắn với thông tin thị trường, đơn vị tuyển dụng, chi phí và khả năng trả nợ.
Ở chiều tích cực, chất lượng tín dụng của Lào Cai đang được duy trì khá tốt. Tổng nợ quá hạn và nợ khoanh còn 36,5 tỷ đồng, tương đương 0,29% tổng dư nợ và giảm 4,3 tỷ đồng so với đầu năm. Từ những con số đó có thể thấy một nét chuyển trong chính sách an sinh: người lao động ngày càng được đặt vào vị trí chủ thể tạo ra sinh kế thay vì chỉ là đối tượng nhận hỗ trợ.
Khi một khoản vốn giúp người dân mở rộng sản xuất, một lao động tìm được việc làm hay một người trẻ vùng cao có điều kiện bước vào thị trường lao động nước ngoài, giá trị của tín dụng chính sách không dừng lại ở số tiền đã giải ngân. Nó được đo bằng việc làm được tạo ra, thu nhập được cải thiện và khả năng một gia đình từng bước tự đứng vững bằng chính sức lao động của mình. Đó cũng là chiều sâu đáng quan tâm của một chính sách hướng về người lao động: không chỉ giúp họ vượt qua khó khăn hôm nay, mà tạo thêm điều kiện để họ có thể chủ động hơn với cuộc sống ngày mai.