Năm 2026 đánh dấu nhiều thay đổi trong quản lý thuế, trong đó tác động trực tiếp nhất tới khu vực kinh doanh nhỏ lẻ là chuyển hộ kinh doanh từ phương pháp thuế khoán sang kê khai từ ngày 1/1/2026 cùng với thực hiện chủ trương cải cách, phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính, ngành Thuế đang chuyển cách tiếp cận theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.
Đến ngày 30/6/2026, toàn ngành đã thực thi cắt giảm, đơn giản hóa 96 thủ tục hành chính và 2 điều kiện kinh doanh, qua đó giảm 481 ngày giải quyết thủ tục. Nhưng với hàng chục nghìn hộ kinh doanh, thay đổi đáng kể hơn lại diễn ra trong những công việc hằng ngày.
Từ chỗ quen với mức thuế khoán, người kinh doanh phải từng bước làm quen với kê khai doanh thu, hóa đơn điện tử, sổ sách và các giao dịch thuế trên nền tảng số. Cách quản lý của cơ quan thuế cũng chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm dựa trên dữ liệu và quản lý rủi ro.
Sau 8 tháng triển khai, Lào Cai có hơn 40.000 hộ kinh doanh thực hiện kê khai thuế, thông báo doanh thu theo quy định. Đối với nhóm hộ có doanh thu trên 1 tỷ đồng đã đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử, tỷ lệ kê khai thuế điện tử đạt trên 90%; tỷ lệ cài đặt và sử dụng eTax Mobile đạt 95%.
![]() |
| Bà Vương Bích Hằng, Phó Trưởng Thuế tỉnh Lào Cai trả lời chính sách thuế trong chương trình đối thoại trên Cổng TTĐT tỉnh |
Sự chuyển đổi này càng đáng chú ý khi hoạt động kinh doanh không còn giới hạn trong một cửa hàng hay một địa điểm cố định. Một hộ có thể đồng thời bán tại cửa hàng, qua mạng xã hội và trên sàn thương mại điện tử.
Doanh thu từ các kênh kinh doanh được tổng hợp để xác định doanh thu năm. Với nền tảng có chức năng đặt hàng và thanh toán trực tuyến, việc khấu trừ, kê khai và nộp thuế thay được thực hiện trong phạm vi pháp luật quy định; những khoản doanh thu chưa được nộp thay, người kinh doanh phải tự theo dõi và kê khai.
Điều đó khiến dữ liệu trở thành một phần quan trọng của quản lý thuế. Người kinh doanh phải lưu giữ thông tin đơn hàng, thanh toán, hoàn trả, hóa đơn và đối chiếu nghĩa vụ trên hệ thống điện tử. Cơ quan thuế, ở chiều ngược lại, có thêm cơ sở để phân tích rủi ro, phát hiện chênh lệch và hỗ trợ người nộp thuế khắc phục sai sót.
Hóa đơn điện tử cũng trở thành một mắt xích trong quá trình này. Đối với doanh nghiệp và hợp tác xã, khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ phải lập hóa đơn điện tử theo quy định. Với hộ, cá nhân kinh doanh, việc sử dụng hóa đơn điện tử bắt buộc khi doanh thu năm trên 1 tỷ đồng; nhóm doanh thu từ 1 tỷ đồng trở xuống có thể tự nguyện đăng ký.
Cách tiếp cận mới vì thế không chỉ hướng tới thu đúng, thu đủ mà còn đặt trọng tâm vào hỗ trợ tuân thủ và cảnh báo sớm. Những trường hợp sai sót được hướng dẫn khai bổ sung, khắc phục; các hành vi cố ý che giấu doanh thu, không lập hóa đơn khi thuộc diện bắt buộc hoặc sử dụng hóa đơn không hợp pháp vẫn được xử lý theo quy định.
Với Lào Cai, chuyển đổi số trong quản lý thuế còn gặp một bài toán đặc thù: địa bàn rộng, nhiều xã vùng cao, chợ phiên và số lượng lớn hộ kinh doanh nhỏ lẻ. Bởi vậy, đưa mọi dịch vụ lên môi trường số chưa đồng nghĩa mọi người nộp thuế đều có thể sử dụng ngay.
Bên cạnh eTax Mobile, đăng nhập qua VNeID, trợ lý ảo và Chatbot hỗ trợ 24/7, ngành Thuế vẫn duy trì bộ phận một cửa, đường dây nóng, đối thoại, tập huấn và hỗ trợ trực tiếp. Các tổ hỗ trợ có thể đến xã, chợ và trung tâm cụm dân cư; thời gian hướng dẫn được bố trí phù hợp lịch chợ phiên, tài liệu thiết kế ngắn gọn và có thao tác mẫu.
Sự phối hợp với chính quyền xã, phường, ngân hàng, doanh nghiệp viễn thông và nhà cung cấp giải pháp cũng giúp người kinh doanh tiếp cận tài khoản thanh toán, chữ ký số, phần mềm bán hàng và hóa đơn điện tử.
Đây có lẽ là điểm đáng chú ý nhất trong quá trình đổi mới quản lý thuế tại một tỉnh miền núi: công nghệ giúp rút ngắn khoảng cách, nhưng con người vẫn cần thiết để lấp khoảng trống về kỹ năng số.
Hơn 40.000 hộ chuyển sang kê khai, trên 90% kê khai điện tử ở nhóm hộ doanh thu trên 1 tỷ đồng và 95% sử dụng eTax Mobile là những kết quả bước đầu. Tuy nhiên, chất lượng của quá trình chuyển đổi còn được phản ánh ở việc người kinh doanh có thể tự kê khai, tự kiểm tra nghĩa vụ và hạn chế sai sót đến đâu.
Khi đó, cải cách thuế không chỉ được đo bằng số thủ tục đã cắt giảm hay số dịch vụ được đưa lên môi trường số. Giá trị lớn hơn nằm ở việc người nộp thuế mất ít thời gian hơn, dễ thực hiện nghĩa vụ hơn và cơ quan quản lý có dữ liệu tốt hơn để bảo đảm sự công bằng giữa các chủ thể kinh doanh.
Đó cũng là nền tảng để mối quan hệ giữa cơ quan thuế và người nộp thuế chuyển dần từ quản lý nghĩa vụ sang hỗ trợ tuân thủ, phù hợp với một môi trường kinh doanh ngày càng số hóa và minh bạch.