Chủ nhật 05/07/2026 13:56
Hotline: 024.355.63.010
Thời cuộc

Không thể mãi dựa vào lao động giá rẻ để thu hút đầu tư

12/10/2020 00:00
Trong thời kỳ công nghệ 4.0, chúng ta không chỉ mãi dựa vào lao động phổ thông để thu hút vốn đầu tư. Khi dân số chuyển sang thời kỳ già hóa, năng lực cạnh tranh về nhân công giá rẻ của chúng ta không còn nữa.

Từ năm 2014, Việt Nam đã bắt đầu bước vào giai đoạn bắt đầu già hóa và theo PGS Giang Thanh Long, Viện trưởng Viện Chính sách Công và Quản lý, Việt Nam chỉ còn chừng 20 năm nữa trước khi bước vào giai đoạn dân số già.

Trong khi đó, theo Forbes, hơn 90% dòng tiền FDI vào Việt Nam chỉ tập trung trong các ngành sản xuất giản đơn: may mặc, chế biến lương thực - thực phẩm, lắp ráp linh kiện điện tử. Đây là những ngành có xu hướng sử dụng lao động tay nghề thấp, thậm chí chưa cần qua trường lớp đào tạo.

Chuyện công nhân vẫn bị sỉ vả vẫn như cơm bữa sau 25 năm

Năm 1995, tôi vào thử việc cho một công ty may mặc của Hàn Quốc có văn phòng ở phố Thái Hà, Hà Nội. Những anh “oppa” Hàn Quốc đẹp trai, lịch lãm, hiểu tâm lý phụ nữ, luôn mở cửa xe cho tôi và hỏi tôi muốn ăn gì mỗi khi đi ăn trưa làm tôi rất có cảm tình.

Thử việc được hai ngày, sếp đưa tôi xuống xưởng may ở Hải Phòng. Vẫn lịch lãm nhưng với thái độ vì công việc ở mức tối đa, vừa đi trên đường, tôi vừa được bổ túc một núi từ mới trong ngành may.

Vào xưởng, khi tôi còn chưa kịp quen mắt với những dãy bàn dài khổng lồ và những người thợ cắm cúi bên những chiếc máy khâu, tôi đã thấy sếp giận giữ, giật phanh chiếc thước trên bàn và đập thẳng vào bàn tay người thợ, vì chị đã thùa sai vị trí một chiếc khuyết áo. Chị thợ rúm ró, khúm núm, cúi đầu ôm bàn tay đỏ lựng. Còn tôi, tôi không hiểu cảm giác của mình lúc đó như thế nào, nhưng cả một ngày chạy cùng sếp, tôi như đi với một người hoàn toàn khác lạ, hách dịch, cửa quyền, và coi thường công nhân.

Đến 2 giờ 30 chiều, xong việc, chúng tôi chạy lên thành phố ăn trưa, vẫn được sếp chạy xuống mở cửa xe và ân cần như hai hôm trước nhưng tôi không thể tìm lại cái cảm tình vốn có của mình. Đó cũng là ngày cuối cùng tôi làm cho họ.

Kể câu chuyện đã xảy ra từ 25 năm trước, tưởng rằng không liên quan gì tới hiện tại. Nhưng tiếc thay, việc công nhân ở các khu công nghiệp bị các sếp người Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan hay cả người Việt chửi mắng, sỉ vả vẫn không phải là chuyện hiếm gặp hằng ngày.

Các doanh nghiệp luôn điều chỉnh mức thu nhập trên mỗi sản phẩm của công nhân, vì vậy, dù mức lương tối thiểu của người lao động có tăng nhưng thu nhập của người lao động lại không tăng với mức tương xứng. Ảnh: TTXVN

Trung Quốc, anh bạn láng giềng khổng lồ của người Việt, đã chính thức trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới và đang có những bước tiến rất nhanh và mạnh về kinh tế. Sức cạnh tranh về giá nhân công của Trung Quốc không còn cao, chiến tranh thương mại Mỹ - Trung, rồi Covid-19 bùng phát khiến nhiều doanh nghiệp FDI lục tục tìm cách rút khỏi quốc gia này. Đây cũng được xem là một cơ hội rất tốt cho Việt Nam trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, đăc biệt từ các doanh nghiệp FDI muốn rời Trung Quốc.

Chính phủ đã có nhiều chính sách mở rộng cửa, đưa ra những ưu đãi tốt nhất để đón đầu cơ hội này. Những năm gần đây, dòng tiền từ nguồn FDI đổ vào thị trường Việt Nam ngày càng lớn. Tuy nhiên, theo Hiệp Hội công nghiệp hỗ trợ Việt nam (VASI), Việt Nam vẫn chưa có một hệ sinh thái và các điều kiện phù hợp cho việc chuyển giao công nghệ. Các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp hỗ trợ thường có quy mô nhỏ hơn 200 nhân viên, chỉ có khả năng tiếp nhận các đơn đặt hàng nhỏ. Vì vậy, nhiều ngành công nghệ cao vẫn chưa được chuẩn bị tốt để đón nhận dòng tiền đầu tư.

Cách quản lý ở các công xưởng này vẫn không khác nhiều cách quản lý ở các đại công xưởng những năm đầu thời kỳ công nghiệp hóa ở châu Âu, coi công nhân như những mắt xích của các cỗ máy khổng lồ. Việc của các nhà quản lý là tạo điều kiện để những người thợ này có thể làm việc năng suất nhất trong thời gian dài nhất.

Ngày nay, ngoài thuyết quản trị khoa học của Taylor (scientific management theory), những nhà đầu tư FDI còn được hỗ trợ bởi các phương tiện quản lý dùng thuật toán (algorithm), thời gian và sức lực của người thợ thường bị tận dụng chặt chẽ tới mức nghẹt thở.

Công nhân ở các nhà máy may được trả lương theo sản phẩm, tức là họ sẽ được trả lương cứng theo giờ khi làm đủ chỉ tiêu (ví dụ bao nhiêu chiếc áo/giờ). Nếu làm vượt chỉ tiêu, họ sẽ được thưởng theo số lượng thực làm được. Nếu làm không đủ chỉ tiêu, họ sẽ được bù lương, nhưng sẽ bị săm soi quản lý rất sát sao.

Ngày nay, ngoài thuyết quản trị khoa học của Taylor (scientific management theory), những nhà đầu tư FDI còn được hỗ trợ bởi các phương tiện quản lý dùng thuật toán (algorithm), thời gian và sức lực của người thợ thường bị tận dụng chặt chẽ tới mức nghẹt thở.

Trả lương theo sản phẩm đang vắt kiệt sức người lao động

Trả lương theo sản phẩm, nhìn bề ngoài có vẻ như là một chính sách ưu việt cho người lao động nhưng trên thực tế lại không hoàn toàn như thế. Một mặt nó vắt kiệt sức người lao động vì để có thể làm đủ hoặc vượt chỉ tiêu, nhiều người bỏ cả giờ nghỉ, cắt ngắn giờ ăn trưa để tranh thủ làm việc. Tuy nhiên, tiền công trả cho sức lao động của họ thật rẻ mạt.

Mức lương tối thiểu hàng năm tăng nhưng đó chỉ là mức lương cứng. Các chủ đầu tư luôn dựa vào điều kiện thực tế các đơn hàng, tính toán chi li để có chi phí lao động thấp nhất, mức bán trên thị trường quốc tế cạnh tranh nhất và lợi nhuận thu về cao nhất. Các doanh nghiệp luôn điều chỉnh mức thu nhập trên mỗi sản phẩm của công nhân, vì vậy, dù mức lương tối thiểu của người lao động có tăng nhưng thu nhập của người lao động lại không tăng với mức tương xứng.

Nghiên cứu của Viện Công nhân và Công đoàn (Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam) phối hợp với tổ chức Oxfam về tình hình tiền lương và điều kiện làm việc của người lao động ở một số doanh nghiệp may cung ứng cho các nhãn hàng quốc tế năm 2019 chỉ rõ 69% công nhân không có đủ tiền để trang trải nhu cầu sinh hoạt; 31% không tiết kiệm được gì từ tiền lương; 37% luôn ở trong tình trạng vay nợ để bù lấp thiếu hụt chi tiêu; 68% hiếm khi hoặc chưa bao giờ có thời gian rảnh để đi thăm người thân và bạn bè; 96% không bao giờ hoặc hiếm khi đi ăn nhà hàng. 28% công nhân lương không đủ đảm bảo chi tiêu ăn uống cho gia đình trong tháng, trong đó 50% phải vay tiền để mua thức ăn; 6% cho biết vào cuối tháng, họ chỉ ăn cơm chan canh suông.

Nghiên cứu này cũng chỉ rõ rằng mức lương cơ bản của công nhân may ở Việt Nam (gồm mức lương tối thiểu + 7% phụ cấp đào tạo và 5% phụ cấp độc hại) thấp hơn nhiều mức lương đủ sống (living wage). Tính cả tiền lương làm thêm giờ, vẫn có hơn 52% công nhân may ở Việt Nam đang được trả mức lương dưới mức của Liên minh Lương đủ sống Toàn cầu, và 99% công nhân có mức lương thấp hơn mức sàn lương châu Á.

Điều kiện làm việc, áp lực công việc và mức thu nhập eo hẹp đã ảnh hưởng lớn tới sức khỏe người lao động. 65% công nhân nói thường xuyên làm thêm giờ; 22% không sử dụng thời gian nghỉ giữa giờ, nhiều người phải nhịn tiểu hoặc đi vệ sinh nhanh chóng rồi quay về làm việc; 69% công nhân hay bị đau đầu, chóng mặt, tụt huyết áp, đau đốt sống cổ; 36% đang bị hen suyễn, huyết áp, tiểu đường, tim,…; Đến 53% không đủ tiền trang trải chi phí khám chữa bệnh, thuốc men.

Trả lương theo sản phẩm, nhìn bề ngoài có vẻ như là một chính sách ưu việt cho người lao động nhưng trên thực tế lại không hoàn toàn như thế.

Một mặt nó vắt kiệt sức người lao động vì để có thể làm đủ hoặc vượt chỉ tiêu, nhiều người bỏ cả giờ nghỉ, cắt ngắn giờ ăn trưa để tranh thủ làm việc. Tuy nhiên, tiền công trả cho sức lao động của họ thật rẻ mạt.

Tiền lương của công nhân các doanh nghiệp FDI còn bị cắt xén bởi nạn tiêu cực của các địa phương, nơi các doanh nghiệp này đặt phân xưởng sản xuất. Việc các doanh nghiệp phải bôi trơn các bộ máy quan chức quản lý nhiều tầng ở địa phương của Việt nam được đưa ra như một bài học về (tình huống khó xử về đạo đức - ethical dilemma) cho các doanh nghiệp đa quốc gia khi quyết định đầu tư vào đây.

Nghi án công ty Tenma của Nhật Bản hối lộ quan chức tỉnh Bắc Ninh là một ví dụ điển hình. Chi phí bôi trơn cũng được tính như một phần chi phí doanh nghiệp phải chi trả, và đương nhiên, chi phí này ảnh hưởng trực tiếp tới quyết định về mức lương mà doanh nghiệp trả cho người lao động trực tiếp.

Phải giảm dần lao động giá rẻ

Dù làm việc căng thẳng với mức lương eo hẹp nhưng tuổi thọ trụ được với nghề của người lao động giản đơn cho các doanh nghiệp FDI cũng ngắn ngủi. Vì công việc không đòi hỏi tay nghề cao, không có sự phân biệt nhiều giữa công nhân lành nghề và công nhân mới nhưng lại cần sức khỏe và mức độ chịu đựng cường độ lao động cao nên gần 80% công nhân ở các khu công nghiệp có tuổi đời dưới 35. Các công ty này tuyển người lao động thường xuyên, điều này cũng đồng nghĩa với việc nhiều người lao động không trụ lại được sẽ bị sa thải hoặc tự sa thải.

Việt Nam trong những năm tới sẽ có thêm nhiều nhà xưởng từ vốn đầu tư nước ngoài nữa. Và dù Chính phủ đã bắt đầu chú ý đến việc ưu tiên cho các hướng đầu tư có giá trị chuyển giao công nghệ cao nhưng với thực tế hiện tại, xu thế các doanh nghiệp đầu tư tận dụng nguồn lao động thô sơ, giá rẻ vẫn chiếm chủ lực.

Có lẽ, ngoài việc kêu gọi đầu tư, nhà nước cần có những biện pháp để đảm bảo sức khỏe và mức sống tối thiểu cho người lao động. Những biện pháp an sinh xã hội, tạo công ăn việc làm cho người lao động khi hết sức lao động cho các khu công nghiệp từ khi còn rất trẻ cũng phải được tính toán kỹ lưỡng. Cần phải tính đến cả các hệ lụy khổng lồ mà các nhà máy này đã gây ra đối với môi trường sống của người dân trên khắp đất nước.

Ngay từ bây giờ nhà nước cần có những biện pháp đầu tư, tạo điều kiện đẩy mạnh sự phát triển của các doanh nghiệp nội địa, đa dạng hóa các ngành nghề, đầu tư nâng cao tay nghề cho người lao động để có đủ sức mạnh tự cường cho nền kinh tế. Đầu tư vào giáo dục, nâng cao tỷ lệ lao động chất xám và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp nội là cách tốt nhất để phát triển bền vững. Có lẽ, không một người lao động Việt nào bây giờ muốn nghe những ông chủ Hàn hay chủ Trung Quốc mắng chửi, chỉ vì thùa sai chỉ một chiếc khuyết áo.

Trần Thị Tuyết

Tin bài khác
Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh: Gỡ điểm nghẽn, thúc đẩy tăng trưởng hai con số

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh: Gỡ điểm nghẽn, thúc đẩy tăng trưởng hai con số

Bộ trưởng Trần Hồng Minh nhấn mạnh ưu tiên tháo gỡ điểm nghẽn quy hoạch, hạ tầng, nhà ở và đầu tư, tạo nền tảng quan trọng giúp ngành xây dựng đóng góp mạnh mẽ vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
Đồng Tháp tăng trưởng GRDP 7,14% trong 6 tháng đầu năm, quyết liệt bứt phá cho mục tiêu cả năm 2026

Đồng Tháp tăng trưởng GRDP 7,14% trong 6 tháng đầu năm, quyết liệt bứt phá cho mục tiêu cả năm 2026

Tốc độ tăng trưởng GRDP của tỉnh Đồng Tháp trong 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 7,14%, nhiều chỉ tiêu kinh tế - xã hội tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh lần thứ tư (mở rộng), lãnh đạo tỉnh yêu cầu cả hệ thống chính trị tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn, thúc đẩy giải ngân đầu tư công, cải thiện môi trường đầu tư và quyết liệt thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm nhằm hoàn thành mục tiêu phát triển năm 2026.
Hạn chót báo cáo danh sách lãnh đạo vi phạm ngân sách trước ngày 5/7/2026

Hạn chót báo cáo danh sách lãnh đạo vi phạm ngân sách trước ngày 5/7/2026

Chính phủ vừa phát đi thông điệp mạnh mẽ nhằm siết chặt kỷ luật tài chính và đầu tư công. Toàn bộ danh sách người đứng đầu, các tập thể để xảy ra sai sót trong quản lý, sử dụng ngân sách niên độ 2024 trở về trước phải được làm rõ trách nhiệm và tổng hợp gửi về Bộ Nội vụ để trình Thủ tướng Chính phủ xử lý.
Sắp ban hành định mức riêng cho tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng

Sắp ban hành định mức riêng cho tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng

Bộ Xây dựng đang lấy ý kiến dự thảo định mức riêng cho tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, nhằm tháo gỡ vướng mắc chi phí và đẩy nhanh tiến độ dự án trọng điểm.
TP. Hồ Chí Minh tăng trưởng 8,55% trong nửa đầu năm 2026, FDI vượt 6,8 tỷ USD

TP. Hồ Chí Minh tăng trưởng 8,55% trong nửa đầu năm 2026, FDI vượt 6,8 tỷ USD

Kinh tế TP. Hồ Chí Minh vẫn duy trì đà tăng trưởng tích cực với GRDP 6 tháng đầu năm 2026 tăng 8,55%. Khu vực dịch vụ tiếp tục là động lực chính, trong khi thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) bứt phá, tạo thêm lực đẩy cho tăng trưởng.
Quảng Ninh tăng trưởng vượt kịch bản, thu ngân sách bứt phá sau 6 tháng đầu năm

Quảng Ninh tăng trưởng vượt kịch bản, thu ngân sách bứt phá sau 6 tháng đầu năm

GRDP 6 tháng đầu năm 2026 của Quảng Ninh ước tăng 11,11%, vượt kịch bản đề ra. Cùng với đó, thu ngân sách đạt hơn 48.500 tỷ đồng, tăng 61% so với cùng kỳ và giải ngân đầu tư công tiếp tục thuộc nhóm dẫn đầu cả nước.
Cục Thống kê: 3 động lực giúp công nghiệp duy trì đà tăng trưởng

Cục Thống kê: 3 động lực giúp công nghiệp duy trì đà tăng trưởng

Theo Trưởng ban Thống kê Công nghiệp và Xây dựng (Cục Thống kê), công nghiệp Việt Nam đang được hỗ trợ bởi ba động lực lớn gồm FDI, đơn hàng xuất khẩu và đầu tư công. Dù vậy, doanh nghiệp vẫn chịu sức ép từ chi phí đầu vào và vận tải, đòi hỏi các giải pháp hỗ trợ kịp thời.
Chốt thỏa thuận FTA với khối EFTA, thủy sản, công nghiệp rộng đường sang Bắc Âu

Chốt thỏa thuận FTA với khối EFTA, thủy sản, công nghiệp rộng đường sang Bắc Âu

Bước ngoặt quan trọng này mở ra cơ hội đưa thuế suất nhiều dòng hàng công nghiệp, thủy sản về 0%, đồng thời thúc đẩy làn sóng đầu tư công nghệ cao từ các nền kinh tế phát triển hàng đầu châu Âu vào Việt Nam.
Cục Thống kê chỉ ra 4 động lực và 3 rủi ro doanh nghiệp cần lưu ý trong nửa cuối năm

Cục Thống kê chỉ ra 4 động lực và 3 rủi ro doanh nghiệp cần lưu ý trong nửa cuối năm

Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, bà Phí Thị Hương Nga, Trưởng ban Thống kê Công nghiệp và Xây dựng (Cục Thống kê, Bộ Tài chính), cho rằng doanh nghiệp Việt Nam vẫn có nhiều dư địa tăng trưởng nhờ nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định, đầu tư công được đẩy mạnh, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục dịch chuyển vào Việt Nam và các chính sách hỗ trợ của Chính phủ. Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng cần chủ động ứng phó với những rủi ro từ thị trường xuất khẩu, chi phí đầu vào và nguồn cung vật liệu xây dựng.
Sàn giao dịch carbon hoạt động - thêm động lực phát triển cho ngành nông, lâm nghiệp

Sàn giao dịch carbon hoạt động - thêm động lực phát triển cho ngành nông, lâm nghiệp

Theo ông Đậu Ngọc Hùng, Trưởng ban Thống kê Nông, lâm nghiệp và Thủy sản (Cục Thống kê, Bộ Tài chính), việc Sàn giao dịch carbon trong nước chính thức vận hành sẽ không được ghi nhận trực tiếp vào giá trị sản xuất của ngành nông, lâm nghiệp, song sẽ tạo tác động tích cực thông qua cơ chế chi trả từ tín chỉ carbon, góp phần khuyến khích bảo vệ và phát triển rừng bền vững.
Xuất nhập khẩu vượt 549 tỷ USD, nhập khẩu tăng mạnh theo đà phục hồi sản xuất

Xuất nhập khẩu vượt 549 tỷ USD, nhập khẩu tăng mạnh theo đà phục hồi sản xuất

Sáu tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt gần 550 tỷ USD, tăng 27,1% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu, phản ánh nhu cầu nguyên liệu, máy móc phục vụ sản xuất gia tăng, trong bối cảnh hoạt động sản xuất, đặc biệt ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, tiếp tục khởi sắc.
Đầu tư tăng tốc, vốn FDI giải ngân cao nhất 5 năm

Đầu tư tăng tốc, vốn FDI giải ngân cao nhất 5 năm

Sáu tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (vốn FDI) thực hiện đạt 13,03 tỷ USD – mức cao nhất của sáu tháng đầu năm trong giai đoạn 2022-2026, cho thấy niềm tin của nhà đầu tư đối với môi trường đầu tư Việt Nam tiếp tục được củng cố.
Sản xuất công nghiệp tăng mạnh nhất trong 7 năm, chế biến chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng

Sản xuất công nghiệp tăng mạnh nhất trong 7 năm, chế biến chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng

Sản xuất công nghiệp tiếp tục ghi nhận những tín hiệu tích cực trong nửa đầu năm 2026 khi chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước - mức tăng cao nhất kể từ năm 2019. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cùng sự phục hồi của khai khoáng và sản xuất điện.
GDP Việt Nam tăng 8,18% nửa đầu 2026 giữa bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động

GDP Việt Nam tăng 8,18% nửa đầu 2026 giữa bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động

Trong bối cảnh kinh tế thế giới suy giảm dự báo, tăng trưởng GDP Việt Nam 6 tháng đầu năm vẫn đạt 8,18%, cho thấy sức chống chịu và động lực phục hồi mạnh mẽ của nền kinh tế.
Phó Thủ tướng chỉ đạo kiểm tra giá cước vận tải, yêu cầu giảm khi nhiên liệu hạ nhiệt

Phó Thủ tướng chỉ đạo kiểm tra giá cước vận tải, yêu cầu giảm khi nhiên liệu hạ nhiệt

Thông báo số 345/TB-VPCP kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng nêu rõ yêu cầu xử lý nghiêm các trường hợp chậm điều chỉnh giảm giá cước khi chi phí đầu vào giảm, đồng thời ngăn chặn các hành vi đầu cơ gây bất ổn thị trường.