Theo Bộ Tài chính, Luật Dự trữ quốc gia quy định hàng dự trữ chiến lược phải đáp ứng một trong các nhóm tiêu chí liên quan đến hàng dự trữ quốc gia; bảo đảm an ninh kinh tế, tài chính, năng lượng, lương thực, an sinh xã hội; phục vụ chiến lược quốc phòng, an ninh, đối ngoại hoặc đáp ứng nhu cầu thiết yếu về kinh tế - xã hội.
Hàng dự trữ chiến lược bao gồm vật tư, thiết bị, hàng hóa, tài nguyên, khoáng sản chiến lược, quan trọng, năng lượng quốc gia và sản phẩm công nghệ cao do Nhà nước quản lý nhằm thực hiện mục tiêu dự trữ quốc gia.
Luật cũng giao Chính phủ quy định thêm các tiêu chí để hình thành hàng dự trữ chiến lược. Trên cơ sở tổng hợp ý kiến của các Bộ, cơ quan, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, tập đoàn, tổng công ty và doanh nghiệp Nhà nước, Bộ Tài chính đề xuất ba nhóm tiêu chí bổ sung.
![]() |
| Đề xuất mở rộng tiêu chí hàng dự trữ chiến lược |
Thứ nhất, hàng hóa có nguồn cung hạn chế, phụ thuộc vào nguồn cung từ nước ngoài hoặc có nguy cơ bị gián đoạn khi xảy ra các tình huống bất thường, khủng hoảng.
Thứ hai, vật tư, thiết bị, hàng hóa có tính đặc thù, chuyên dùng, yêu cầu kỹ thuật cao, phải bảo đảm tính đồng bộ và không có khả năng thay thế trên thị trường trong nước.
Thứ ba, tài nguyên, khoáng sản chiến lược, quan trọng đối với các ngành công nghiệp nền tảng, công nghệ cao, năng lượng, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh hoặc có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh.
Bộ Tài chính cho rằng việc bổ sung các tiêu chí này nhằm bảo đảm mục tiêu huy động, khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế, tăng cường tự chủ chiến lược quốc gia và nâng cao khả năng điều tiết thị trường của Nhà nước.
Các tiêu chí được đề xuất cũng hướng tới những mặt hàng có mức độ rủi ro cao về nguồn cung, dễ chịu tác động từ biến động kinh tế, chính trị, địa chính trị, thiên tai, dịch bệnh, xung đột hoặc các tình huống khẩn cấp khác. Việc hình thành nguồn dự trữ đối với nhóm hàng này được kỳ vọng giúp Nhà nước chủ động ứng phó khi thị trường biến động, hạn chế phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài và duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh, đời sống xã hội.
Đối với nhóm vật tư, thiết bị chuyên dùng, yêu cầu kỹ thuật cao, Bộ Tài chính nhận định việc thiếu hụt có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng vận hành, duy trì hoạt động của các hệ thống, phương tiện và thiết bị chuyên dụng. Trong khi đó, dự trữ tài nguyên, khoáng sản chiến lược, quan trọng có ý nghĩa bảo đảm an ninh nguyên liệu, giảm nguy cơ đứt gãy nguồn cung và nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế.
Bên cạnh tiêu chí, dự thảo Nghị định cũng đề xuất danh mục hàng dự trữ chiến lược và phân công cơ quan quản lý.
Cụ thể, danh mục gồm 8 nhóm: vật tư, thiết bị, hàng hóa chiến lược phục vụ nhiệm vụ quốc phòng do Bộ Quốc phòng quản lý; vật tư, thiết bị, hàng hóa chiến lược phục vụ nhiệm vụ quốc phòng do Bộ Công an quản lý; lương thực, thực phẩm và vật tư thiết yếu do Bộ Tài chính quản lý.
Nhóm nhiên liệu, năng lượng và hóa chất do Bộ Công Thương quản lý; tài nguyên, khoáng sản chiến lược, quan trọng, giống cây trồng, vật nuôi do Bộ Nông nghiệp và Môi trường quản lý.
Nhóm dược phẩm, vật tư y tế, thiết bị y tế và sản phẩm công nghệ - sinh học tiên tiến do Bộ Y tế quản lý. Chip bán dẫn, sản phẩm công nghệ cao, công nghệ chiến lược thuộc phạm vi quản lý của Bộ Khoa học và Công nghệ.
Ngoài ra, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được phân công quản lý nhóm sản phẩm nông, lâm, thủy sản; vật tư, thiết bị, hàng hóa có tác động đến sản xuất, đời sống nhân dân trong khu vực, địa bàn quản lý và tài nguyên, khoáng sản quan trọng.
Theo dự thảo, trường hợp cần sửa đổi, bổ sung danh mục hoặc điều chỉnh phân công cơ quan quản lý hàng dự trữ chiến lược, các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm đề xuất gửi Bộ Tài chính tổng hợp, trình Chính phủ xem xét, quyết định.
Hồ sơ đề xuất phải làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, sự cần thiết điều chỉnh danh mục, thực trạng quản lý và sử dụng hàng dự trữ chiến lược, cơ chế quản lý, sử dụng, giải pháp tổ chức thực hiện và nguồn kinh phí.
Đáng chú ý, dự thảo cũng đưa ra một số chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với tổ chức, doanh nghiệp tham gia dự trữ chiến lược.
Theo đó, chính sách ưu đãi về thuế được thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế. Khoản chênh lệch về doanh thu và các khoản chi phí trong quá trình thực hiện xuất có hoàn trả được giảm trừ khi xác định thu nhập chịu thuế.
Doanh nghiệp có thể được Nhà nước hỗ trợ một phần lãi suất đối với khoản vay thực tế sử dụng để tham gia dự trữ chiến lược. Mức hỗ trợ không vượt quá mức lãi suất cho vay của Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam; không áp dụng hỗ trợ đối với dư nợ quá hạn, lãi phạt và khoản vay đảo nợ.
Bên cạnh đó, Nhà nước dự kiến hỗ trợ từ ngân sách các chi phí liên quan đến quản lý, bảo quản, nhập, xuất, kiểm định và bảo hiểm hàng dự trữ chiến lược theo hợp đồng được ký kết.
Các đơn vị tham gia dự trữ chiến lược cũng được ưu tiên giao đất, cho thuê đất để xây dựng kho dự trữ quốc gia theo quy định.
Việc xây dựng tiêu chí và danh mục hàng dự trữ chiến lược theo hướng trên nhằm tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước chủ động hơn trong quản lý các nguồn lực thiết yếu, nhất là những mặt hàng có nguy cơ đứt gãy nguồn cung hoặc giữ vai trò quan trọng đối với an ninh kinh tế, năng lượng, nguyên liệu và các lĩnh vực công nghệ chiến lược.